Đời Thủy Thủ 3
Vũ Thất

Art by James Flood
(tiếp theo)
CHƯƠNG 23
ĐƯỜNG QUA HÒN CHUỐI
Vẫn mặc áo khoác xanh với hai chữ Báo Chí trắng nổi bật, Lan Như đứng tựa dây an toàn sân trước, chú tâm theo dõi toán kéo neo. Theo lệnh từ đài chỉ huy, Hạm phó Tiến cho máy kéo quay từ từ. Dây neo căng cuộn dần vào trục, con tàu nhích tới đến khi dây neo thẳng đứng. Từng người, mỗi động tác thành thạo, phối hợp nhịp nhàng. Rồi chiếc neo đen sì trồi lên, nước chảy ròng ròng. Tiếng kim loại chạm nhau vang khô khốc.
Lan Như nghe nao nao. Lại thêm một ngày dấn thân, thêm một chương mới cho nghề nghiệp. Một chương chắc chắn nàng chưa từng trải qua.
Hạm phó báo vào điện thoại nội bộ:
– Đài chỉ huy, neo đã vào ổ.
– Giải tán!
Tiếng máy chánh khởi động, trầm và đều, thân tàu hơi rung. Nước sau lái sôi sùng sục. Rạch Gầm từ từ tiến ra khỏi vịnh Bãi Ngự, trực chỉ hướng đông-nam. Lan Như bước theo hạm phó lên đài chỉ huy nhưng anh tạt qua phòng chiến báo.
Vẫn khung cảnh quen thuộc: Võ Bằng đứng bên cánh phải, cố vấn Mỹ tựa trụ la bàn. Hai quan sát viên đứng hai bên người giữ bánh lái, mắt dán vào mặt biển phía trước.
Lan Như đến đứng bên cánh trái, cạnh sĩ quan trực phiên. Biển xanh đục, từng đợt sóng bạc đầu vỗ nhẹ mạn tàu. Rạch Gầm thỉnh thoảng nhẹ lắc khiến đầu Lan Như nghe nằng nặng. Gió đã mạnh hơn buổi sáng mang theo hơi ấm biển khơi. Lan Như lắc đầu cho mái tóc xõa tung, có cảm giác dễ chịu như đầu mới được gội.
Võ Bằng chợt liếc sang, giữ tia nhìn hơi lâu. Hiếm có một cô gái trẻ tuổi, xinh đẹp đến vậy lại ngang nhiên chọn một nghề nguy hiểm. Hẳn phải có một nguyên cớ sâu xa. Thông thường chỉ khi tuyệt vọng hay tổn thương, người ta mới dám đứng gần cái chết đến thế.
Anh nhìn kỹ hơn, như sẽ nhìn thấy nguyên nhân hiện ra đâu đó. Gương mặt trái xoan, mắt to, sáng long lanh; sống mũi thon, đôi môi đầy đặn, mái tóc mướt đen chấm vai. Nguyên nhân không thấy nhưng lại thấy những đường nét ở nàng anh từng thuộc nằm lòng nơi một người con gái khác. Hình ảnh Huỳnh Như Oanh: cũng khuôn mặt ấy, nhưng thêm một đồng tiền ở má trái, thêm một nụ cười mà mỗi lần nhớ đến, tim anh dao động.
Hai vẻ đẹp gần giống nhau, một đang bên anh, một ở tận Sài Gòn. Ai đã khiến hồn anh xao xuyến?
Tiếng nói qua ống loa từ phòng chiến báo kéo anh khỏi dòng suy tư:
– Báo cáo đài chỉ huy, phong vũ biểu đang xuống thấp.
Võ Bằng hỏi:
– Hiện áp suất bao nhiêu?
– Thưa đúng 1000 hPa.
Anh ngước nhìn bầu trời. Mới đó mà mây đã kéo phủ đầy, gió mạnh hơn, sóng bạc đầu cao hơn. Mùi dầu diesel trộn vào không khí oi bức, ngột ngạt.
Lan Như bước tới cúi nhìn hải đồ, hỏi sĩ quan đương phiên:
– Chừng nào mình mới tới Hòn Khoai, trung úy?
Trung úy Bùi Anh Tuấn đo đạc nhanh, trả lời:
– Nếu không có gì xảy ra, khoảng 9 giờ tối. Nhưng mình đến Hòn Chuối trước. Đến đó độ 7 giờ.
Lan Như nhớ buổi họp ban trưa: Võ Bằng đã ấn định tám giờ tối là giờ khởi sự kế hoạch ngăn chặn. Đó là lý do anh cho tàu nhổ neo sớm, để kịp tuần tiễu trục trách nhiệm Hòn Chuối – Hòn Khoai. Quân lệnh phải nghiêm minh. Nàng không viếng được hải đăng là đúng. Nàng hướng mặt về anh, tặng một ánh nhìn cảm thông thân mến. Nhưng Võ Bằng đang dõi mắt ra khơi…
Anh hỏi mà mắt không rời đường chân trời:
– Cô Lan Như chịu được say sóng chứ?
Nàng cười:
– Hiện tại thì… chưa thấy gì.
Tiếng anh êm và ấm:
– Ở ngoài biển, kẻ thù không chỉ là súng đạn, mà còn là sóng gió.
Như tán đồng lời hạm trưởng, Rạch Gầm khẽ rùng mình, lắc lư.
Nhân viên vô tuyến trao Võ Bằng công điện khẩn. Anh đọc lướt rồi nói:
– Tin báo có bão. Cô phóng viên sắp có dịp trổ tài tường thuật trận bão ngoài khơi.
Lan Như xoa tay:
– À, hay tuyệt. Bài phóng sự sẽ thêm phần hấp dẫn: vừa hải chiến với quân địch, vừa hải chiến với bão bùng.
Anh quay nhìn nàng. Câu nói tưởng là đùa ấy lại mang một tâm trạng bình thản lạ lùng. Hai trận chiến – trận nào cũng có thể lấy mạng người – mà nàng nói như sẵn sàng đón đợi.
Trung úy Tuấn vừa xong đo đạc xác định vị trí chiến hạm, Võ Bằng bước đến xem qua rồi hỏi cố vấn:
– How about coffee?
– No, sir. Thank you.
Anh hỏi Lan Như:
– Cô uống cà phê chứ?
– Uống ghiền, sáng một trưa một.
– Vậy thì mời cô.
Võ Bằng bước đến cầu thang. Trung úy Tuấn hô “nghiêm”. Lan Như và cố vấn theo sau. Tất cả vào phòng ăn. Tiếng quân cờ domino kêu lộp cộp trên mặt bàn nỉ xanh im bặt. Hai sĩ quan ngẩng lên chào.
Cố vấn lấy ly nước đá rồi về buồng riêng. Võ Bằng rót hai ly cà phê, Lan Như cầm dĩa đựng các gói đường đem ra bàn. Cả hai im lặng khuấy đường, tiếng muỗng chạm ly vang nghe vui tai.
Võ Bằng lên tiếng:
– Tối hôm qua tôi còn nợ cô về nội dung quyển Binh Thư Yếu Lược. Bây giờ, mời cô cứ hỏi tự nhiên.
Lan Như chợt nhớ, vội xin lỗi rồi về buồng lấy máy ghi âm để lên bàn. Nàng nói khi bấm nút:
– Phải thú thật, đêm qua Lan Như mất ngủ vì Binh Thư Yếu Lược. Nhất là câu anh nói Đức Trần Hưng Đạo không chỉ là một vị tướng tài ba lỗi lạc mà còn là một nhà tư tưởng, nhà chính trị xuất sắc. Những tác phẩm chính trị, quân sự kinh điển của Ngài như Binh Thư Yếu Lược và Hịch tướng sĩ có giá trị muôn đời. Xin anh nói rõ hơn…
Võ Bằng mỉm cười, chậm rãi:
– Ở chương mở đầu, Ngài dạy: “Người làm tướng trước hết phải tu thân, giữ tín, trọng nghĩa, khiến quân như con, dân như nước. Có như vậy, thiên hạ mới yên.” Rồi tiếp: “Khoan thư sức dân làm kế bền gốc sâu rễ” và “lấy nhân nghĩa mà giữ nước”. Tóm lại, làm tướng, trước hết phải thắng mình, kế đến là chăm lo đời sống cho dân, phải biết thương và không áp bức dân, tạo sự vững mạnh từ gốc rễ thì mới mong thắng giặc. Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo cũng nói: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.
Lan Như chống cằm, mắt sáng ánh tinh nghịch:
– Những điều Ngài dạy, Hạm trưởng Võ Bằng đã làm được bao nhiêu?
Anh bật cười:
– Nhiệm vụ của chúng tôi là bảo vệ biển đảo, bảo vệ dân khỏi xâm nhập, giữ ngư trường không bị nước khác chiếm. Làm được bao nhiêu thì không biết, chỉ biết đã làm hết sức mình.
Giọng nàng mềm hơn:
– Anh có tin vào sự linh ứng của Đức Thánh?
– Tin chứ. Nhưng không theo nghĩa siêu nhiên. Thánh không vì phép lạ. Thánh là đạo lý, là sức mạnh tinh thần. Tôi tin vào điều đó.
– Quyển Binh Thư đã hơn sáu trăm năm rồi, có còn giá trị thời nay, khi chiến tranh có hàng không mẫu hạm, phi cơ phản lực, hỏa tiễn?
– Vũ khí thay đổi, con người thì không. Ý chí – kỷ luật – lòng tự trọng – trách nhiệm với quốc gia… không bao giờ cũ.
Lan Như dường bừng tỉnh:
– Ngày xưa học Hịch Tướng Sĩ, Lan Như nhớ mãi đoạn Ngài nói về nỗi đau nỗi hận trước hiếp đáp của quân thù: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa.…” Bây giờ nhắc lại còn nổi gai ốc.
– Đó là tiếng lòng của người gánh trọng trách với đất nước, dám nói với vua: “Muốn hàng, hãy chém đầu thần trước.”
– Bây giờ Lan Như đã hiểu vì sao Ngài thắng cả ba trận Hàm Tử, Chương Dương, Bạch Đằng, giữ vẹn toàn đất nước. Tinh thần yêu dân yêu nước, tinh thần quyết tử mạnh hơn sức mạnh quân sự.
Võ Bằng gật đầu:
– Cô đã thấu đạt nghĩa lý.
Lan Như đăm đăm nhìn anh, khẽ gọi:
– Anh Bằng này… Phải nói Lan Như vừa có được một đề tài hẳn là hay nhất trong đời phóng viên. Lan Như vững tin đất Việt mãi là của người Việt, dù sống bên gã khổng lồ ma giáo.
– Còn Hịch Tướng Sĩ, còn Binh Thư Yếu Lược, còn Bình Ngô Đại Cáo là còn Việt Nam.
Cả hai im lặng một lúc, nhìn hai sĩ quan mải mê chơi domino.
Võ Bằng lên tiếng trước:
– Này cô Lan Như …
– Gì anh?
– Tôi vẫn thắc mắc sao cô chọn nghề nguy hiểm thế này? Lẽ ra cô nên có một gia đình êm ấm.
– Ba Lan Như làm quận trưởng, bị Việt cộng sát hại năm 60. Mẹ bệnh mất vài năm sau. Lan Như tuyệt vọng, muốn tự tử. May có đứa bạn thân khuyên lơn, đưa vào làm nghề báo. Hai năm phóng viên đô thành vẫn buồn, Lan Như xin học khóa phóng viên chiến trường. Đối diện với cái chết và chết… dễ hơn!
Võ Bằng ngạc nhiên:
– Có khóa huấn luyện thật sao? Tôi chưa từng nghe nói. Ai tổ chức?
– Nha Báo Chí, Bộ Thông Tin. Thí sinh phải tốt nghiệp Văn khoa hoặc Học viện Quốc gia Hành chánh. Lại thêm phải hội đủ điều kiện khỏe về thể chất, mạnh về tinh thần.
Võ Bằng nghiêng mặt ngắm Lan Như, cách ngắm nghía khiến hai sĩ quan phì cười. Thấy nàng tỉnh bơ, Võ Bằng gật gù:
– Cô đúng là hội đủ hai điều kiện đó. Còn gì nữa?
– Khóa học một năm, rất khắt khe.
– Họ dạy những gì?
– Ba tháng đầu, học lý thuyết về an toàn sinh mạng, về cứu thương. Ba tháng kế, thực tập sức chịu đựng trong điều kiện khắc nghiệt giữa môi trường thù địch, rồi học phương thức đào thoát.
– Cô học về an toàn sinh mạng mà sao không thấy mang theo áo giáp nón sắt?
Lan Như cười:
– Ông chủ nhiệm bảo khỏi cần mang, trên tàu có sẵn.
– Vậy là phần nào… liều mạng rồi! Còn gì nữa?
– Nếu qua được sáu tháng đầu, sáu tháng sau được gửi thẳng ra sa trường.
Võ Bằng lắc đầu:
– Đến nay, theo cô nói, cô bước vào chiến trường năm thứ ba.
Lan Như hãnh diện đáp:
– Đúng.
– Chưa từng thấy cô nào… chì như cô.
Nàng mỉm cười, mắt long lanh nhìn Võ Bằng không bằng lối tò mò của phóng viên mà bằng tia trìu mến. Nàng nghiêm giọng:
– Bây giờ đến lượt Lan Như hỏi. Anh được mấy cháu rồi?
Võ Bằng cười nhạt:
– Biển mênh mông quá nên ai cũng xa rời. Cũng như cô vậy thôi, chúng ta sống bằng những chuyến đi không nghĩ ngày về.
Câu nói khiến Lan Như bất giác xúc động. Nàng tắt máy ghi âm. Từ giờ phút này nàng chỉ muốn ghi lại bằng trí nhớ và trái tim…
Tiếng điện thoại reo vang. Một sĩ quan bước vội lại nhấc máy nghe rồi trao Võ Bằng:
– Thưa Hạm trưởng, đài chỉ huy muốn gặp.
Võ Bằng áp máy:
– Tôi nghe đây.
Mọi người nhìn anh chờ đợi. Anh gác máy, giọng dứt khoát:
– Radar phát hiện hai mục tiêu di chuyển nhanh.
Anh bước vội ra cửa, nói vói lại:
– Báo cố vấn biết.
Hai sĩ quan đứng lên. Lan Như lật đật chạy theo Võ Bằng.
***
Biển tây nam Cà Mau chiều xuống rất nhanh.
Mới sáu giờ, mặt trời hướng Hòn Khoai chỉ còn dải đỏ mong manh bị nuốt dần vào đám mây đen. Gió đổi hướng, không mạnh nhưng mang theo mùi sình lầy vùng tận cùng đất nước. Sóng bạc đầu dồn dập, mặt nước sẫm dần màu mực tàu.
Ngọn hải đăng Hòn Chuối chớp đều một luồng sáng trắng, mười giây một vòng, như cảnh báo những ai đang qua vùng bất trắc…
Võ Bằng nói nhỏ với Lan Như:
– Biển động là thời điểm địch hay lợi dụng xâm nhập. Hai mục tiêu kia, rất có thể là hai ngư thuyền giả dạng. Thế nào cũng đụng độ. Cô nên chuẩn bị hành nghề…
Lan Như đi vội về phòng. Nàng mặc áo giáp, đội mũ sắt, tay cầm chiếc máy ảnh. Một cảm giác bất an nổi lên. Nếu đụng trận thật, Võ Bằng là người đứng đầu sóng ngọn gió
CHƯƠNG 24
LẠI HẢI CHIẾN…
Khi Lan Như trở lên đài chỉ huy, Võ Bằng không còn đó. Không ai mặc áo giáp hay đội nón sắt. Nàng ngượng ngùng, cởi cả hai treo lên móc sắt trên vách. Giọng Võ Bằng khô khốc vang lên từ ống loa:
– Sĩ quan trực. Liên lạc hai duyên tốc đỉnh, hai chiến thuyền. Hẹn gặp nhau ở Hòn Chuối trong thời hạn sớm nhất.
– Nhận rõ, thưa Hạm trưởng.
– Có phóng viên Lan Như trên đó?
– Thưa có.
– Nói cô ấy xuống phòng chiến báo.
– Rõ!
Trung úy Tuấn chỉ đường. Nàng xuống tầng kế, gõ cánh cửa mang bảng “Khu Vực Hạn Chế”. Chính Võ Bằng mở cửa. Hạm phó và ba nhân viên hiện diện chào nàng.
Vừa bước vào, Lan Như thấy choáng ngợp. Căn phòng nhỏ hẹp, máy đủ cỡ chiếm kín bốn vách. Giữa phòng đặt một chiếc bàn rộng, phủ tấm mica trong suốt. Ánh sáng xanh lục từ màn hình radar hắt ra, khiến mọi vật chìm trong không gian lạnh lẽo, kỳ bí như đáy đại dương.
Võ Bằng giới thiệu, giọng trầm ấm:
– Đây là Trung tâm chiến báo, Combat Information Center – CIC, bộ óc tác chiến của chiến hạm. Mọi dữ kiện từ radar, vị trí ta–địch, địa hình – được phân tích ở đây, trước khi tôi ra quyết định.
Anh đưa nàng lại gần màn hình radar. Cây kim phát quang đang quay vòng đều đặn, để lại các vết trắng lớn nhỏ. Anh chỉ từng mục tiêu giải thích:
– Vệt dài là bờ biển Cà Mau. Đốm sáng lớn là Hòn Chuối. Rải rác là ghe câu. Hai đốm ở rìa màn hình là hai mục tiêu di động nghi ngờ.
Anh dừng lại, chờ thắc mắc. Thấy Lan Như tỏ vẻ nhận hiểu, anh tiếp:
– Chúng ta sẽ thả trôi ở Hòn Chuối, theo dõi và chờ chúng đến gần rồi bất ngờ đánh úp.
Lan Như cau mày:
– Nhưng trên radar chỉ là hai đốm sáng. Làm sao biết hướng đi, tốc độ của chúng để… đánh úp?
– Cách tính dễ dàng. Nhưng trước hết cô cần biết qua về các hải cụ liên quan.
Võ Bằng đưa nàng trở lại giữa phòng. Anh chỉ lên mặt bàn mà mới đầu nàng tưởng chỉ là tấm mica, nói chậm:
– Tấm mica kẻ độ này là bản trận đồ, nơi ghi dấu mọi đường đi nước bước của ta và địch.
Anh kéo cần máy chia độ có gắn thước đo bên trên bản trận đồ:
– Máy này gọi là DRT – Dead Reckoning Tracer.
– Cách tính thế này. Radar cho vị trí mục tiêu. Ta đánh dấu trên trận đồ điểm thứ nhất. Vài phút sau, đánh dấu điểm thứ hai. Dùng DRT nối hai điểm đó, ta có hướng đi. Đo khoảng cách, chia cho thời gian, ra tốc độ.
Đợi Lan Như nhận diện kỹ trận đồ, anh tiếp:
– Cô thấy đó, bọn chúng đang đi về hướng bắc với tốc độ 16 gút. Khoảng một tiếng nữa, những vị khách không mời này sẽ ngang qua chúng ta nếu chúng định tiếp tế cho bọn nằm vùng Cà Mau.
Lan Như hít sâu, cố ghi nhớ nhưng hàng loạt danh từ chuyên môn lạ hoắc lạ huơ khiến nàng lại mở sổ tay ghi chép. Nàng hoàn toàn không ngờ có ngày mình đặt chân vào một nơi không giống bất cứ nơi nào. Không gian om tối, không khí lạnh lẽo, chỉ có ánh sáng xanh lục của màn hình radar quét vòng, quét vòng… Một sự tĩnh lặng đầy áp lực, đến… nghẹt thở. Nàng siết chặt cuốn sổ, bàn tay và cả cơ thể khẽ run lên. Có phải nàng đang sợ? Chắc là không. Chỉ là con tàu đang rung, đang lắc…
Con tàu lắc lư từ lúc nào, Lan Như không để ý. Bên ngoài, gió rít qua những dây cột cờ, tạo nên âm thanh ù ù não nề, như một lời dọa nạt vô hình. Nàng chợt cảm nhận thân phận mình quá mong manh giữa biển đêm bao la tăm tối.
Nửa giờ sau Rạch Gầm thả trôi phía tây Hòn Chuối. Biển êm dưới gió. Hai chiến thuyền cập áp mạn. Chuẩn úy Bình từ Delta 5 bước vào CIC trình diện. Võ Bằng thông báo tình hình và hoạt động phối hợp: Một mục tiêu do hai duyên tốc đỉnh trách nhiệm. Mục tiêu còn lại do Rạch Gầm và hai chiến thuyền.
Anh căn dặn Chuẩn úy Bình:
– Đội hình truy kích hàng ngang: Rạch Gầm ở giữa, hai chiến thuyền hai bên, cách nhau năm mươi mét. Tuyệt đối không được tự tiện nổ súng hoặc khám xét khi chưa có lệnh.
– Nhận rõ, thưa Hạm trưởng.
– Chỉ huy trưởng Delta 5 là ai vậy?
– Thưa, Đại úy Tôn Thất Minh.
– Cùng khóa tôi. Nói với Đại úy Minh, tôi sẽ ghé Hòn Khoai nay mai.
– Tôi sẽ chuyển lời.
Chuẩn úy Bình chào rồi rời tàu.
Võ Bằng chỉ thị các nơi im lặng vô tuyến, tắt toàn bộ đèn lộ thiên. Anh khoanh tay nhìn màn ảnh. Hai đốm sáng vẫn chậm rãi nhích lên từng chút. Hai tàu xâm nhập cùng lúc. Chúng diễn trò gì đây? Một cầm chân, một xâm nhập tiếp tế? Cả hai cùng bỏ chạy hay quyết liệt chống trả? Võ Bằng nói vào loa:
– Đài chỉ huy. Hỏi hai duyên tốc đỉnh còn cách Hòn Chuối bao xa?
– Xin chờ.
Một lát, Trung úy Tuấn báo:
– Thưa Hạm trưởng, còn cách hai mươi lăm hải lý.
Võ Bằng thấy vững tâm hơn. Hai đánh một chẳng chột cũng què, huống chi bên anh năm đánh hai. Nhưng giờ phút đợi chờ vẫn trĩu nặng.
Chợt tiếng hạ sĩ quan CIC vang lên:
– Trình Hạm trưởng. Hai mục tiêu còn cách tám hải lý, đang tách ra. Một hướng ra khơi về đảo Thổ Châu, một hướng vào cửa sông Ông Đốc.
Võ Bằng nhìn nhanh bản trận đồ, rồi phát lệnh:
– Trung úy Tuấn. Báo cho Hải Dương 3: mục tiêu 1 ở tọa độ 8.8082 Bắc, 104.5330 Đông đang hướng về Thổ Châu. Yêu cầu ngăn chận.
– Hải Dương 3 nhận rõ.
Võ Bằng giao CIC cho Hạm phó rồi lên đài chỉ huy. Cố vấn và Lan Như theo sát.
Anh đưa ống dòm lên mắt. Phía nam, trời đen đặc, không một ánh đèn. Phía bờ Cà Mau, vài đốm đèn vàng của ngư thuyền chập chờn theo sóng.
– Đài chỉ huy. Radar báo cáo: mục tiêu 1 vẫn hướng về Thổ Châu. Mục tiêu 2 cách sáu hải lý, đang tiếp cận bờ.
Anh đặt loa khuếch đại ngoài thành đài:
– Delta 05, yêu cầu tách khỏi chiến hạm và áp dụng đội hình hàng ngang.
– Nhận rõ.
Anh đặt loa vào bệ, nói với sĩ quan trực:
– Cho máy tiến 1.
Con tàu rùng mình tiến tới. Khi cho máy tiến 3, Võ Bằng ban lệnh tác chiến.
Tiếng còi báo động dồn dập rền vang. Chẳng mấy chốc, các ổ súng đầy người trong áo giáp, nón sắt. Võ Bằng hỏi:
– CIC, cho biết hướng và tốc độ mục tiêu 2.
– Hướng 050, tốc độ 16 gút.
– Cho biết hướng và tốc độ cần chận đầu.
Một khoảng im lặng căng thẳng rồi tiếng nói phát lên:
– Hướng 110, tốc độ 14 gút.
Võ Bằng nói “cám ơn” rồi ra lệnh:
– Lái hướng 110. Hai máy tiến 4.
Những âm thanh quen thuộc – tiếng máy, tiếng nước rẽ – hòa vào nhịp tim mọi người.
Lan Như thắc mắc:
– Khó hiểu quá! Làm sao biết được hướng đi và tốc độ tàu mình cần có để đón đầu tàu địch?
– Nếu thật sự cô cần hiểu cặn kẽ, tôi sẽ giải thích lúc khác. Vắn tắt, cũng nhờ máy DRT, cách tính như trên.
Tiếng PRC-46 vang theo gió:
– Bắc Bình, đây Hải Dương 3. Đã thấy mục tiêu 1. Bắt đầu truy kích.
Võ Bằng nghiêm giọng:
– Hải Dương 3. Hết sức cẩn thận. Chúc may mắn. Nếu cần yểm trợ, báo tôi ngay.
– Nhận rõ, thẩm quyền.
Võ Bằng đưa ống dòm lên. Phía trước, vẫn chỉ bóng tối mịt mùng.
Lan Như bắt đầu thấy khó chịu. Nàng ôm bụng. Nước miếng ứa ra, cổ họng nhờn nhợn. Nàng thầm cầu mong đừng ói, đừng để Võ Bằng cười. Mà ói ra đâu? Chẳng lẽ cho tưới lên sàn. Thấy nàng lúng túng cúi nhìn quanh, một thủy thủ hiểu ý, lặng lẽ kéo chiếc xô ở góc đến cạnh chân nàng. Sợ mở miệng sẽ ói, nàng chỉ gật nhẹ, biết ơn.
– Đài chỉ huy. Mục tiêu 2 cách ba hải lý.
– Súng cối 81. Chuẩn bị hỏa châu. Hướng 1 giờ.
– Nhận rõ.
– Tất cả ổ súng sẵn sàng.
– Đã sẵn sàng!
Không khí như đông đặc. Bắn hỏa châu đồng nghĩa với lộ vị trí – cho cả địch lẫn ta. Nhưng địch có lợi thế hơn. Chúng biết là gặp tàu tuần, sẽ không do dự bắn phủ đầu trong khi ta còn nghi ngờ. Võ Bằng nói với nhân viên âm thoại chuyển lệnh:
– Tất cả ổ súng chú ý. Khi có hỏa châu, nếu địch khai hỏa, phản pháo tức khắc. Riêng khẩu 76 trục xạ hai quả vào đài chỉ huy.
– Nhận rõ.
Thời gian trôi chậm trong im lặng nặng nề. Tiếng từ miệng loa bừng tỉnh mọi người:
– Đài chỉ huy. Khoảng cách 1000 yards. Hướng 1 giờ.
– Bắn hỏa châu!
Một tiếng “bùm” trầm đục vang lên. Quả pháo lao vút, vạch một vết lửa trắng, rồi bung dù, treo lơ lửng như mặt trời đêm. Ánh sáng đổ xuống mặt biển, phơi bày một chiếc tàu đang tiến tới.
Đó không phải ngư thuyền miền Tây. Thân tàu dài, mũi nhọn, sơn màu xám bẩn. Trên boong sau, dưới tấm bạt, là những khối vuông xếp chỉnh tề. Không cột buồm, không lưới cá, không bóng người thong thả, chỉ có những cái bóng đen nhanh nhẹn di chuyển. Võ Bằng lẩm bẩm: “Đúng là tàu xâm nhập”.
Ánh hỏa châu bắt đầu mờ. Anh ra lệnh bắn tiếp quả thứ hai. Không gian lại bừng sáng.
– Đài chỉ huy. Cách 700 yards.
Anh cầm loa khuếch đại, giọng mạnh, dứt khoát:
– Tàu lạ chú ý! Đây là chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng Hòa. Các anh đang ở trong hải phận Việt Nam. Yêu cầu tắt máy, tất cả lên boong. Bất tuân lệnh sẽ nổ súng!
Giọng nói của anh vang vọng trên mặt biển nhưng tàu lạ vẫn im lặng. Võ Bằng đưa loa cho cố vấn. Người bạn đồng minh tuôn một tràng tiếng Mỹ. Tàu lạ quay đầu bỏ chạy.
Võ Bằng lại cầm loa, gằn từng tiếng:
– Tàu kia. Muốn sống, ngưng máy lập tức. Có chạy cũng không thoát.
Anh nói với hai chiến thuyền:
– Delta 5, theo tôi, truy kích.
Tất cả tăng máy hết tốc lực. Ngay lúc đó, một dãy lửa lóe sáng từ tàu địch. Nhiều tràng đạn xé gió lao tới. Một số rơi trước mũi Rạch Gầm, một số vút ngang đài chỉ huy. Lan Như ló đầu ra ngoài chụp ảnh, Võ Bằng định quát “muốn chết hả” thì các khẩu 76, 40, 20 đã đồng loạt rền vang đinh tai điếc óc.
Dù bị đáp trả dữ dội, hỏa lực địch vẫn ào ạt bắn sang. Hỏa châu đã tắt, khiến những đường đạn lửa trong đêm càng thêm ghê rợn. Đạn va vào vách sắt, vách đài chỉ huy, vào lá chắn an toàn các khẩu pháo, tóe lửa.
– Đài chỉ huy. 20 ly tả hạm báo cáo. Một thủy thủ bị thương
Võ Bằng nói vào loa nội bộ:
– Toán y tế đến ngay tả hạm.
– Khoảng cách mục tiêu 500 yards.
– Bắn tiếp hỏa châu.
Lửa đạn địch vẫn vãi tới tấp. Võ Bằng ra lệnh:
– 76 ly. Trực xạ hai quả vào đuôi tàu địch.
Hai tiếng nổ nối tiếp, quả đầu rơi gần lái, khối nước bung cao trắng xóa. Quả thứ hai trúng đuôi tàu, lửa phụt lên, khói đen cuồn cuộn. Tàu địch chậm hẳn lại. Nhiều bóng đen nhốn nháo, vài người nhảy ùm xuống biển.
Võ Bằng hét lớn:
– Tất cả ngưng bắn!
Im lặng đột ngột phủ xuống. Chỉ còn tiếng sóng và tiếng máy tàu. Giọng Võ Bằng lại vang lên:
– Hai máy tiến 1. Chuẩn bị rọi đèn.
Anh cầm vi âm PRC-46:
– Delta 5. Báo cáo tổn thất.
– Delta 5 vô sự.
– Cẩn thận tiến lên mạn tả, tôi tiếp cận mạn hữu. Cố gắng cứu vớt những người nhảy xuống biển.
Tàu địch đã ngừng hẳn, cách Rạch Gầm 200 mét. Võ Bằng ban lệnh:
– Giám lộ, rọi đèn.
Đèn chưa kịp rọi, một tiếng nổ long trời lở đất rung chuyển đại dương, kéo theo hàng loạt tiếng nổ dồn dập. Một khối cầu lửa khổng lồ bùng lên, khói đen ngùn ngụt cuốn cao. Hơi nóng hắt tới tận Rạch Gầm. Võ Bằng cho lệnh lùi tàu. Hai chiến thuyền cũng tản ra.
Lan Như hào hứng bấm máy liên tục, ghi trọn quang cảnh trận hải chiến, cảnh ngọn lửa bùng lên trên tàu địch, từ từ co cụm, chỉ còn một đám nhỏ trên mặt biển. Bỗng dưng nàng nghe lòng se lại. Những bóng người nhảy xuống biển lúc nãy giờ ra sao? Bao nhiêu người đã chết theo tàu chìm? Niềm hào hứng nghề nghiệp vụt tắt. Lần nào cũng vậy, sau trận chiến là nỗi xót xa tràn về…
Võ Bằng lại cho tàu tiến tới. Đèn rọi qua lại tới lui. Tàu địch biến mất. Có một đầu người nổi trên mặt biển và một cánh tay quơ quơ cầu cứu. Một chiến thuyền tiến tới.
Như phụ họa tình hình, tiếng máy PRC-46 vang lên:
– Hải Dương 3 báo cáo: Mục tiêu 1 đã bị khống chế, thu nhiều súng đạn, bắt giữ tàu và 5 người gồm hai bị thương nặng. Ta hai bị thương nhẹ. Xin cho chỉ thị.
– Chờ. Tôi đến gặp anh.
Sau mười lăm phút, Delta 5 báo cáo vớt được 2. Một người bị thương nặng. Cả hai được chuyển qua Rạch Gầm. Chiến hạm tiến máy hướng về Thổ Châu gặp Hải Dương 3. Hai chiến thuyền tiếp tục tuần tiễu trục Hòn Khoai – Hòn Chuối.
Anh cho lệnh giải tán nhiệm sở tác chiến rồi vào phòng truyền tin gửi công điện cho Vùng 4:
“TTBC. Rạch Gầm, hai duyên tốc đỉnh, hai chiến thuyền đã phối hợp ngăn chận 2 tàu địch. Hai cuộc chạm súng xảy ra. Ta: 3 bị thương. Địch: Chết không rõ. Bị thương và bị bắt 7. Một tàu xâm nhập chìm, một bị bắt giữ với nhiều súng đạn. Xin cho chỉ thị”.
Lan Như hí hửng lên đài chỉ huy với tâm trạng hân hoan đã ghi lại được những hình ảnh hải chiến quý giá. Không thấy bóng dáng Võ Bằng, nàng hụt hẫng. Anh đi đâu? Không thể về buồng lúc này. Chỉ có thể là anh xuống thăm thủy thủ bị thương. Nàng vội xuống sân chính vào phòng y tá.
Nàng đoán đúng. Võ Bằng đang thăm hỏi thủy thủ Hòa, đạn xuyên hông máu ra nhiều nhưng không trầm trọng. Anh còn rất tỉnh táo trả lời mọi câu hỏi. Thấy nàng, Võ Bằng xoay qua mỉm cười:
– Đã đụng trận, hài lòng rồi phải không? Bài phóng sự hải chiến hẳn sẽ lôi cuốn độc giả.
– Chưa bao giờ hài lòng như lần này.
– Nên chụp hình các tù binh cho đầy đủ. Đi với tôi.
Trên đường đi, Lan Như chầm chậm nói:
– Đây là lần đầu ra trận… em thấy sợ.
Nàng cúi mặt ngượng ngùng khi nghe mình bất ngờ xưng em. Võ Bằng thản nhiên bước, giọng dịu dàng:
– Tôi cũng sợ.
Lan Như ngước lên:
– Nhưng… không phải sợ cho em.
Võ Bằng mỉm cười nhìn nàng:
– Anh cũng vậy.
CHƯƠNG 25
HÃY VỀ BÊN NHAU…
Sau hai tuần chập chững vào nghề… gõ đầu trẻ, sau những đêm cặm cụi soạn bài giảng, những ngày phải nhớ, phải nói liên miên, Như Oanh cảm thấy rã rời. Tối thứ Bảy, nàng lên giường sớm, tự nhủ sẽ ngủ một giấc dài thẳng cánh.
Ánh nắng sớm của sáng Chủ Nhật len qua khe cửa, thắp sáng căn phòng nhỏ yên tĩnh. Những hạt bụi lấp lánh, chậm rãi trôi trong không gian, như đang khiêu vũ trên hình dáng còn chìm trong giấc ngủ say nồng.
Tiếng gõ cửa bất ngờ vang lên, dồn dập và khẩn thiết, xé toạc sự tĩnh lặng mong manh. Như Oanh giật mình tỉnh giấc, mắt còn nặng trĩu nhìn về phía chiếc đồng hồ báo thức: chín giờ. Giờ này, ngày này… thường là Vinh đến.
Một nỗi mệt mỏi lẫn chán chường lan tỏa khắp người nàng. Có nên tiếp không? Nàng chỉ muốn được yên.
Còn đang phân vân, chưa kịp quyết định, tiếng gõ lại vang lên lần nữa, và một giọng nói quen thuộc, rành rọt cất lên:
– Dậy đi. Ngọc Lan đây. Tao vô nghe.
Giọng nói ấy như một luồng gió mát thổi tan mọi uể oải. Như Oanh mừng rỡ kêu to:
– Vô đi!
Nàng tỉnh ngủ hẳn, ngồi bật dậy đúng lúc cánh cửa bật mở. Ngọc Lan, với mái tóc dài buông lơi và áo dài xanh thanh nhã, bước nhanh vào. Chẳng khách sáo, nàng nhẹ nhàng đóng cửa rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế cạnh bàn học, thở ra một hơi dài.
Như Oanh vồn vã, giọng còn ngái ngủ:
– Về hồi nào vậy?
– Tối hôm qua. Về trễ, không đến mày ngay được nên hôm nay đến sớm.
– Dạy học ở Long An sao rồi?
Ngọc Lan đáp, vuốt mái tóc còn lòa xòa:
– Học trò hiền lành lắm. Ở trọ chung với mấy cô giáo, ăn cơm tháng. Cũng tạm yên thân.
Như Oanh hạ giọng, cười nói:
– Thế… đã có người mới của chốn mộng mơ mới chưa?
Ngọc Lan mỉm cười, lắc đầu:
– Chưa! Thầy giáo già thì quá già, thầy trẻ thì quá trẻ!
Từ ngày vào Đại học Sư Phạm, Ngọc Lan đã trải qua vài mối tình. Khi không còn đồng cảm, nàng thẳng thừng rút lui, không níu kéo. Như Oanh vẫn thầm ngưỡng mộ sự minh bạch ấy của bạn. Chính vì vậy, nàng đang mong gặp bạn để nhờ gỡ mớ rối bời trong lòng mình.
Nàng thở dài, nói:
– Đang mong gặp mày để nhờ gỡ rối tơ lòng đây!
Ngọc Lan tròn mắt:
– Sao? Mày với anh chàng Vinh duyên tình trục trặc à? Tưởng định xong ngày đám hỏi rồi chứ?
Như Oanh cười buồn:
– Chuyện dài, để tao rửa mặt cái đã.
Như Oanh rời giường. Ngọc Lan đưa mắt nhìn quanh gian buồng quen thuộc của bốn năm hai đứa từng ngồi học chung, từng tâm sự đến tận khuya. Những bức tranh trên tường vẫn như ngày nào. Mona Lisa với nụ cười bí ẩn, Cô gái với đôi khuyên tai bằng ngọc trai lấp lánh ánh mắt xuyên thấu tâm can và Thiếu nữ bên hoa huệ của Tô Ngọc Vân mang vẻ đẹp dịu dàng thuần khiết. Những kỷ niệm của thời sinh viên bỗng ùa về, đẹp, lặng lẽ…
Như Oanh trở lại, giọng trầm buồn:
– Tao và Vinh tuyệt giao rồi!
Ngọc Lan ngồi thẳng dậy:
– Hả? Mày nói chơi chắc?
– Không. Trăm phần trăm!
Ngọc Lan trố mắt nghiêng người về phía trước, hỏi dồn:
– Chuyện gì đã xảy ra đến nông nỗi ấy? Anh ta có bồ khác à?
Như Oanh lắc đầu, giọng chán nản:
– Được như vậy, tao càng mừng. Đàng này…
Như Oanh kể lại chi tiết cuộc cãi vã lần cuối, Ngọc Lan nghe mà lòng trĩu nặng, ngao ngán lắc đầu:
– Không ngờ anh chàng có ý tưởng tầm thường và hẹp hòi đến vậy. Mày đã quyết định đúng. Nhưng liệu anh ta sẽ chịu buông tha?
Như Oanh cắn môi:
– Không chịu cũng phải chịu.
– Nếu tuần sau anh ta đến, mày có tiếp không?
– Không.
– Dù là… lịch sự mời một ly nước?
– Cũng không!
Ngọc Lan hài lòng với thái độ kiên quyết của bạn, cười hỏi:
– Mọi sự chỉ vì anh chàng Thiện?
Như Oanh ngơ ngác:
– Thiện nào?
– Anh chàng Thiện của đêm nghe ca nhạc chứ Thiện nào! Đừng giả mù sa mưa.
Như Oanh bật cười:
– Tưởng gì! Chỉ là một khuôn mặt trong đám đông.
Ngọc Lan chớp mắt tinh nghịch:
– Không Thiện thì là hạm trưởng. Hạm trưởng gì quên rồi?
Như Oanh nghe xao xuyến. Ngọc Lan đã nhắc đến đúng người nàng đang cần thổ lộ. Nàng nhìn bạn, nói nhỏ:
– Chính vì người đó mà tao cần mày làm cố vấn.
– Rắc rối đến vậy mà sao tao chả biết gì về anh chàng đó?
– Có thì giờ đâu mà kể. Đã tính kể khi nghe ca nhạc, nhưng rồi bận… nhảy đầm. Ngày hôm sau thì mày đã đi Long An rồi!
Ngọc Lan hào hứng dịch ghế lại gần:
– Thì giờ đang có thừa. Kể đi!
Như Oanh dông dài cho hai buổi gặp gỡ ngắn: buổi tối dạ tiệc ở nhà người chị, và buổi xế chiều trên bãi biển. Đó là một người không hào nhoáng nhưng rắn rỏi, điềm đạm, nói năng thẳng thắn và sâu sắc. Rồi, trong phút bốc đồng khi chia tay, một lời hứa buột miệng thốt ra.
Thấy Ngọc Lan chăm chú lắng nghe, đôi mắt mở to đầy hứng thú, Như Oanh hăng hái tiếp tục:
– Tao tưởng sau khi về Sài Gòn, bên cạnh Vinh, cơn rung động nhỏ nhoi ngoài bãi biển sẽ tự tan. Nhưng không ngờ… chính Vinh lại tạo điều kiện cho tao nhớ Võ Bằng thêm hơn. Một hình bóng mới đến, một cuộc tình vừa tan, khiến tao ngơ ngẩn. Nếu giữ lời hứa với Võ Bằng, tao thấy có một cái gì đó không ổn…
Ngọc Lan vươn tay nắm lấy tay bạn, siết nhẹ:
– Hỏi thật lòng, mày nhớ anh chàng nhiều không?
Như Oanh nhìn ra cửa sổ, giọng trầm xuống:
– Lúc nào rảnh rỗi là nhớ. Càng rảnh càng nhớ. Nhất là những lúc yên tĩnh, trước khi chợp mắt, hay vừa thức giấc. Hình ảnh cứ hiện ra cùng giọng nói, nụ cười.
Ngọc Lan reo lên:
– Vậy là “tiếng sét ái tình” rồi còn gì nữa!
Như Oanh nhăn nhó:
– Không! Chỉ nhớ nhiều sau khi chia tay với Vinh. Và chính vì cuộc chia ly làm tao sợ. Sợ yêu quá vội vàng để rồi lại vướng phải không đúng người. Nhưng cũng sợ vì đáp ứng quá chậm chạp mà vuột mất người có thể là… người trong mộng.
Ngọc Lan lắc đầu, giọng đầy kinh nghiệm:
– Sợ toàn những chuyện vớ vẩn. Nên bắt chước tao đi. Cứ thuận theo thời thế – gặp thời thế thế thời phải thế. Thấy thích, thấy hợp thì nhào vô cái rụp. Thấy không thích, không còn hứng thú nữa thì cái rụp rút lui. Như mày vừa dũng cảm bỏ Vinh đấy thôi. Giờ thì hãy mạnh dạn tiến tới. Hãy viết thư cho chàng ta, hò hẹn gặp mặt đi.
Như Oanh vẫn còn do dự, ngón tay vân vê cây viết:
– Đã hứa thì chắc chắn phải viết rồi. Nhưng… sợ nếu ngỏ ý mong gặp lại, thì nghe có vẻ như tao… tự hạ giá mình quá thấp!
Ngọc Lan bật cười giòn tan, vỗ nhẹ lên đùi:
– Bạn ơi là bạn! Tình cảm xuất phát từ trái tim, từ cảm xúc chứ đâu phải từ cái bàn cân hay thước đo! Có yêu, có nhớ, có muốn gặp thì cứ nói thật. Giả tạo mới là tự hạ thấp mình.
Như Oanh thở dài:
– Đành là vậy… Nhưng tao muốn nhờ mày giúp ý kiến về lá thư gửi cho Võ Bằng. Tao đắn đo, viết đi xé lại cả tuần rồi mà không biết viết sao cho không tỏ ra quá hối hả, cũng không quá hững hờ.
Ngọc Lan lại lắc đầu, nhưng lần này với vẻ dịu dàng, nghiêm túc hơn:
– Oanh này, quan trọng nhất vẫn là lòng mình thật sự muốn gì. Hãy viết theo trái tim của mày.
Ngọc Lan đứng bật dậy, mặt rạng rỡ, hối thúc:
– Lại ngồi đây… và viết…
Như Oanh bước lại bàn học, rút tập giấy trắng tinh từ hộc kéo. Nàng cầm cây viết mà nỗi lo lắng mơ hồ lại trào dâng. Nàng ngước nhìn bạn, giọng đầy bất an:
– Viết thế nào đây? Bắt đầu từ đâu?
Ngọc Lan khoanh tay, ra dáng suy tư một lúc, rồi chậm rãi nói:
– Chúng mình đều là giáo sư Việt văn, nghĩa là văn chương chữ nghĩa bề bề, nhưng tao là người ngoại cuộc, biết gì mà cố vấn. Chính mày phải viết bằng cảm xúc thật của riêng mày.
Như Oanh nhìn tập giấy, nghĩ suy. Ngọc Lan khuyến khích:
– Cứ viết đi, lời ra ý cũng tuôn theo.
Như Oanh áp ngòi viết xuống trang giấy. Hơi thở chậm lại. Rồi từng con chữ hiện ra, chậm rãi, cẩn trọng, thấm đẫm những rung cảm từ con tim.
Sài Gòn, sáng Chủ Nhật…
Anh Võ Bằng thân mến,
Hy vọng lá thư này tìm đến anh, bất kể anh đang ở nơi nào, giữa biển khơi hay vùng đảo xa xôi. Mong anh luôn giữ vững tay lái, bình an vượt qua mọi con sóng dữ.
Anh còn nhớ lời Như Oanh hứa trước khi chúng ta chia tay vào buổi chiều duyên hải? Từ ngày về Sài Gòn, Như Oanh đã cân nhắc kỹ càng, nghiêm túc về con đường tình cảm của chính mình. Và giờ đây, Như Oanh muốn thông báo với anh một cách chân thành nhất: lễ hỏi dự trù với người yêu bốn năm đã vĩnh viễn hủy bỏ.
Xin anh đừng vội nghĩ rằng anh là nguyên nhân khiến Như Oanh bị coi là kẻ bất nhất. Không, không phải vậy. Thật lòng, Như Oanh vẫn từng ước mong mình có thể tiếp tục gần gũi và yêu thương anh ấy nhiều hơn. Nhưng một sự việc bất ngờ đã xảy đến, như một tấm gương, giúp Như Oanh có dịp nhìn lại lòng mình một cách rõ ràng hơn. Và Như Oanh nhận thấy, thật khó để có thể tiến tới một kết cuộc hạnh phúc trọn vẹn. Không phải vì không thiết tha, mà bởi không thể nào kéo dài cả cuộc đời bên cạnh người có quan niệm sống hoàn toàn trái ngược với mình.
Giờ đây, khi gánh nặng tinh thần ấy đã được trút bỏ, Như Oanh thấy cả thể xác lẫn tâm hồn đều nhẹ nhõm lạ thường. Và cũng chính trong sự nhẹ nhõm này, Như Oanh nhận ra đã đến lúc cần giữ trọn lời hứa với anh…
Khi nào công việc nơi đảo xa của anh hoàn tất, trở về Sài Gòn, nếu anh thấy thuận tiện và… cũng muốn có một buổi gặp mặt, chúng ta có thể cùng ngồi lại bên nhau. Sẽ vẫn có ly cà phê phin đậm đà cho anh và ly nước dừa mát lành cho Như Oanh như lần chúng ta cùng ngồi nơi quán Sóng ven biển. Và chúng ta sẽ có nhiều thời gian hơn để tiếp tục câu chuyện “tình duyên hải” còn đang dang dở.
Như Oanh mong rằng, cuộc gặp gỡ – nếu có – sẽ giúp tình cảm của chúng ta tìm được đúng vị trí của nó: hoặc là mở ra một chân trời hạnh phúc thật sự, hoặc là dứt khoát, thanh thản khép lại như lần Như Oanh vừa khép lại.
Nghe nói Phú Quốc sắp trải qua cơn bão cuối mùa. Cầu mong cho Rạch Gầm và thủy thủ đoàn của anh luôn an toàn, sớm về cập bến căn cứ.
Thân mến,
Huỳnh Như Oanh
(Địa chỉ: …)
Viết xong, Như Oanh lặng lẽ đọc lại một lần rồi trao cho bạn. Ngọc Lan cầm lá thư, chăm chú đọc từng dòng, đôi mày đôi khi nhíu lại, đôi môi đôi khi mỉm cười. Trái tim Như Oanh đập thình thịch đợi chờ.
Cuối cùng, Ngọc Lan ngẩng lên, gật đầu kiểu cô giáo hài lòng:
– Chân thành, tế nhị, rõ ràng, không cần thêm gì nữa.
Như Oanh nhắm mắt lại, thở ra một hơi nhẹ nhõm. Một cảm giác êm đềm, ấm áp kỳ lạ lan tỏa trong lồng ngực. Trong khoảnh khắc ấy, nàng như thấy hình ảnh Võ Bằng hiện ra trước mắt với nụ cười hiền hòa. Nhưng ngay sau đó, một cảm giác bất an chợt đến, như ngọn gió đại dương bất ngờ tạt qua. Nàng mở mắt, hỏi khẽ:
– Giả sử thư bị thất lạc?
– Không đâu. Gửi KBC cho chị mày, chỉ sớm hay muộn.
– Giả sử anh ấy nhận được thư, mà không đến… thì sao?
Ngọc Lan cười giòn:
– Thì cũng chẳng sao cả. Mày đã sống thật lòng! Nếu không có duyên hải, thì chờ… duyên thiên.
Như Oanh như không nghe câu cợt đùa của bạn. Nàng trông ra cửa sổ, nơi bầu trời Sài Gòn sáng Chủ Nhật trong xanh. Một dáng mây trôi chầm chậm như con tàu đang hải hành. Nhưng đang ra khơi hay về bến? Nàng không rõ…
CHƯƠNG 26
CUỒNG PHONG
Đứng gần chiếc ghế độc nhất, Võ Bằng nghiêng qua nàng, nói nhỏ:
– Theo phép lịch sự thì tôi nên nhường cho Lan Như ngồi nhưng tập tục hải quân lại không cho phép. Vì đó là chiếc ghế dành riêng cho hạm trưởng.
Nàng gật đầu, giữ giọng bình thường:
– Lan Như hiểu. Anh cứ ngồi tự nhiên.
Nhưng Võ Bằng bước đến đứng bên cánh phải. Đó là điểm tựa mỗi khi anh cảm thấy cần tỉnh táo tuyệt đối. Với không khí oi bức thế này, biển đang trầm tích cơn thịnh nộ. Không gian im lắng đến mức từng tiếng động cơ như nhịp tim con tàu vọng lên nghe rõ mồn một.
Gió lồng lộng, giật mạnh. Mây đen từ chân trời ùn ùn kéo đến nuốt chửng những vì sao cuối cùng. Từng mảng dày, lướt sát ngọn ăng-ten. Mặt biển nổi sóng. Từng đợt đập vào mạn Rạch Gầm như đánh trống trận, khiến con tàu rên rỉ, tròng trành dữ dội hơn.
Lan Như cảm thấy bụng quặn lại, mồ hôi rịn trên mặt, trên lưng. Nước miếng ứa đầy miệng. Cơn buồn ói ập đến. Nàng lảo đảo bước tìm chiếc xô. Nước mắt tràn ra nhưng kịp nhận thấy nó nằm sát sàn cánh trái. Vừa cúi gập người, thức ăn tuôn xối xả. Tiếng ói mửa bị nuốt chửng bởi tiếng sóng, nhưng mùi tanh chua thì lan nhanh khắp nơi. Con tàu như bất mãn, nghiêng một góc thật sâu. Suýt nữa Lan Như đã bật ngửa.
Võ Bằng liếc sang, không nói gì. Trên biển, lời an ủi cho người ói mửa chỉ làm đương sự… thêm phiền lòng!
Vô tuyến viên trình công điện. Võ Bằng bước lại bàn hải đồ, bật đèn, mắt lướt nhanh: “Hai duyên tốc đỉnh thuộc Hải Dương 3 trách nhiệm đưa tàu và nhân viên bị bắt về An Thới. Rạch Gầm đảm trách tuần tiễu trục Thổ Châu – Hòn Khoai. Ghi nhận nhiều tàu lạ ngoài khơi Hòn Khoai. Hết sức cảnh giác. Gửi danh sách đề nghị tưởng thưởng. Nhận hành.”
Võ Bằng chỉ thị hạm phó, “đáp nhận hành”.
Vào một giờ sáng, Rạch Gầm hoàn tất việc chuyển giao, rẽ sóng hướng về Hòn Khoai.
Nhân viên trình công điện thứ hai:
“Cơn bão đã đổ bộ Thừa Thiên, đang tan dần. Trận cuồng phong đang thành hình trong vịnh Thái Lan. Các đơn vị thận trọng hải hành.”
Võ Bằng khẽ thở dài. Cuồng phong tuy chỉ xảy ra ngắn ngủi, nhưng có khi còn nguy hiểm hơn bão tố. Gặp bão, con tàu có thể nương theo thế sóng, tách dần khỏi tâm bão. Nhưng cuồng phong thì khác. Nó là cơn cuồng nộ bất thường. Gió đẩy sóng dựng đứng, đuôi tàu trên đỉnh sóng, cả bánh lái lẫn chân vịt quay trong không khí. Dòng hải lưu xoáy mạnh, khiến tàu bị cuốn theo và có thể bị nhận chìm.
Đành rằng khi thiết kế con tàu, các kỹ sư đã tính toán sức bền vật liệu và sự thăng bằng trong mọi tình huống có thể, nhưng không phải là toàn năng. Chính Hạm trưởng là người phải nhận định tình thế để có phản ứng thích đáng. Như khi chân vịt quay trên mặt nước, ông ta phải tức khắc cho ngưng máy để tránh trục quay bị phá vỡ. Rồi tức khắc phải cho máy chạy trở lại để con tàu đừng bị gió đẩy ngang, lật tàu. Gặp cuồng phong cực mạnh, ông ta phải ban lệnh máy tiến máy lùi, tiếp sức bánh lái giữ con tàu theo hướng đi. Lệch đường do gió và dòng hải lưu đã là quá nguy hiểm, huống hồ đi hẳn ngoài đường. Cho dù máy ước định vị trí DRT và máy đo chiều sâu vẫn bền bỉ hoạt động, nhưng trong cuồng phong, không có gì bảo đảm để con tàu không mắc cạn hoặc va vào đá ngầm.
Anh quay sang cô phóng viên:
– Lan Như nên xuống nghỉ đi.
Lan Như cố gắng nở nụ cười:
– Mấy thuở được lên chiến hạm. Lan Như muốn trải nghiệm cuồng phong, muốn biết các anh đối mặt với nó… như thế nào!
Võ Bằng xúc động nhìn nàng với lòng ngưỡng mộ. Người thì mảnh mai mà nghị lực phi thường. Phóng viên chiến trường có khác!
Tiếng Thiếu úy Lũy:
– Hạm trưởng cẩn thận. Sóng rất to.
Võ Bằng nhìn phía trước. Không phải một, mà là một chuỗi ba cơn sóng khổng lồ liên tiếp, cao như dãy núi, ập thẳng vào mũi và thân tàu. Rạch Gầm bị hất bổng lên, rồi rơi tự do xuống một hố sâu. Mọi người cảm giác hụt hẫng, thót tim. Thân tàu kêu răng rắc như thể sắp vỡ toang ra từng mảnh.
Đài chỉ huy nghiêng 45 độ. Lan Như bị hất văng, hét lên, đầu đập vào vách. Anh hạ sĩ quan quay lui, một tay bám vào thành đài, một tay kéo Lan Như lên. Nàng gượng gạo đứng nhưng rồi đổ gục xuống. Sàn tàu trở thành điểm tựa duy nhất cho nàng. Và cái xô trở thành bạn thân thiết. Nàng há miệng, gục đầu lên miệng xô, lại ụa mửa. Võ Bằng đưa nàng khăn giấy và hai tay cố nâng nàng lên. Nàng lại mửa tiếp như biểu lộ lý do từ chối đứng dậy.
Rồi một con sóng thật cao, vượt hẳn các đợt trước, dựng đứng mũi tàu rồi quật xuống. Đài chỉ huy rung lắc dữ dội. Thân tàu nghiêng sâu, sâu hơn nữa. Con tàu rùng mình, run rẩy như người bị sốt rét. Âm thanh ùng ục từ lườn tàu khiến mọi người lạnh sống lưng.
Con tàu còn đang chênh vênh giữa bờ vực, lại một đợt sóng khác ập tới. Hai chân vịt quay trong không khí, gầm rú ghê rợn trước khi rơi trở lại nước. Rồi đợt khác nữa, ào ạt phủ trắng. Thân tàu biến mất, chỉ còn bọt sôi sùng sục. Vừa ló dạng thì cơn gió lốc tràn tới, cuốn con tàu xoay 90 độ. Võ Bằng hét to ban các lệnh, át mọi tiếng xô bồ.
Trong bóng tối đen ngòm và dài cả giờ, Rạch Gầm phải chịu đựng mọi cuộc tấn công: nó chồm lên, lắc lư, rên siết rồi đón nhận cú va đập của sóng ngầm làm chấn động từ mũi đến lái. Nó hết rung bần bật như người lên cơn sốt rét rồi lao xuống những hố sâu. Nó hứng trọn hàng tấn nước đổ sập như thác mùa mưa lũ, đoạn trồi lên chậm rãi đến tuyệt vọng. Nó tiếp tục gồng mình đẩy khối nước ra và chuẩn bị chờ đòn kế tiếp. Nó như đoàn thủy thủ: kiệt sức nhưng nhất định không đầu hàng.
Riêng Võ Bằng, anh cảm nhận từng cú va đập như thể đánh thẳng vào ngực mình. Anh cũng cảm nhận được nỗi nhức nhối của cái khoảnh khắc con tàu từ đáy vực gắng sức vươn lên dưới sức nặng khủng khiếp của khối nước đại dương. Những lúc đó, anh luôn bám vào nỗi nghi ngờ ghê rợn: liệu Rạch Gầm có còn trồi lên được nữa không? Hay có thể chính anh và tất cả thủy thủ đoàn cùng con tàu chìm sâu dưới đáy biển mà không để lại một dấu vết gì!
Trong niềm ưu tư, Võ Bằng vẫn cố đứng vững. Anh phải lờ đi nỗi sợ, tập trung vào từng mệnh lệnh cứu con tàu. Khối óc mệt mỏi của anh buộc phải cảnh giác mọi tình thế và vẫn tính toán cho được đâu ra đó, kể cả thầm khẩn cầu Phật Trời hộ trì bình an.
Sĩ quan, hạ sĩ quan và các thủy thủ đương phiên mặt mày xanh mét cùng hướng về Hạm trưởng Võ Bằng. Anh làm mặt tươi tỉnh kèm với nụ cười méo mó:
– Cứ yên trí. Rạch Gầm tuy nhỏ mà lỳ đòn. Biển cả cũng sẽ phải chào thua!
Nói vậy để yên lòng mọi người, nhưng chính anh hiểu rõ: Rạch Gầm đã về già. Từ thời đệ nhị thế chiến, hơn 30 năm chịu đòn bão tố, cuồng phong. Nó có thể không chìm nhưng rất có thể bị… gãy đôi.
Cũng may, không có cơn bão hoặc cuồng phong nào dữ dội đến mức kéo dài mãi mãi. Cơn giận điên khùng của chúng chỉ một vài giờ, cùng lắm là vài ngày rồi cũng hạ nhiệt. Trận cuồng phong hiện tại đã tung hoành suốt một giờ, tuy còn hậm hực nhưng đã giảm sức tấn công. Con tàu vẫn lắc lư, loạng choạng nhưng đã hải hành theo hướng ấn định.
Gió thổi những hạt mưa tung bay như tạt nước, không chỗ nào trên đài chỉ huy không ẩm ướt, buốt lạnh. Từng đi biển liên tục năm năm, Võ Bằng đã quen với những trận cuồng phong, nhưng hai năm liền “ngồi bờ” khiến anh càng đuối sức.
***
Vào ba giờ sáng, không chỉ Lan Như mà cả một số thủy thủ không còn gì để mửa thì Võ Bằng mới bắt đầu nôn ọe. Không vì sóng mà vì mùi tanh hôi bám chặt đài chỉ huy. Anh phải chường mặt thở ngoài mưa gió.
Khi thấy khỏe, anh nhìn hải đồ. Chiến hạm đã cách xa hòn Thổ Châu, nhưng phải chờ đến bình minh mới có thể thấy Hòn Khoai. Anh bảo sĩ quan trực:
– Thiếu úy Lũy. Nói Phòng chiến báo cho biết mỗi khi có thay đổi độ sâu.
Lũy chuyển tiếp lệnh. Có tiếng đáp: “Phòng Chiến báo đáp nhận.”
Vào lúc 4 giờ kém 10, Hạm phó xuất hiện tiếp nhận phiên hải hành. Bình thường, Hạm phó được miễn đi phiên. Anh tạm thay thế Thiếu úy Dương Công Đức bị thương trận Bà Lụa.
Hạm phó chào Võ Bằng, nói to:
“Thưa Hạm trưởng, Hạm phó nhận phiên.”
Giọng Võ Bằng sắc lạnh:
– Chấp thuận.
Thiếu úy Lũy đứng nghiêm đưa tay chào:
– Xin phép rời phiên trực.
Giọng Võ Bằng trầm ấm:
– Hoàn thành phiên trực rất tốt. Cám ơn em và chúc ngủ ngon.
Anh nhìn ra ngoài bóng đêm đông đặc. Theo kinh nghiệm, từ giờ đến sáng khó có biến động. Các tàu lạ đang lảng vảng không dại gì xâm nhập ban ngày. Hạm phó lại đang đi phiên, bảo đảm yên trí.
Anh nói với Lan Như còn ngồi bẹp trên sàn, tựa lưng vào trụ la bàn:
– Còn hai tiếng nữa là sáng, có lẽ đêm mai mới có chuyện hấp dẫn cho cô.
Lan Như ngước lên, đôi mắt mệt mỏi nhưng lóe sáng, hỏi dồn:
– Đêm mai còn đụng độ nữa hở anh?
– Có thể lắm! Để tôi đưa Lan Như xuống nghỉ, dưỡng sức cho trận tới.
Nàng không kềm được thắc mắc, hỏi nhỏ:
– Còn anh?
– Tôi cũng nghỉ ngơi đôi chút.
Anh ghi đặc lệnh tuần đêm rồi đỡ nàng đứng dậy và rời đài chỉ huy. Lan Như lặng lẽ theo sau. Phải qua bao vất vả nàng mới đến được khung cửa vào khu phòng ngủ sĩ quan. Võ Bằng đứng lại, nhìn theo dáng mảnh mai chập chững bước dọc hành lang, xa dần rồi khuất sau bức rèm.
Anh quay bước. Trên lối về phòng riêng, bóng dáng nàng như còn in trong không gian. Rồi lạ lùng thay, hình bóng đó biến thành… Như Oanh.
***
Phòng riêng của Võ Bằng, sách vở, hồ sơ, khung ảnh văng tung tóe trên sàn, nhưng anh mặc kệ, nằm lên giường. Anh cố dỗ giấc ngủ mà không sao ngủ được, thân anh lúc nghiêng qua, lúc nghiêng lại, có lúc bị đẩy va vào thanh giường an toàn. Bên tai, tiếng gió hú gào hòa tiếng sóng bập bùng va đập mạn tàu. Tiếng sấm vẳng đưa. Bỗng anh đâm lo. Liệu thân tàu có bị… nứt nẻ gì không?
Phải khó khăn lắm mới ngồi dậy được. Bước vài bước, anh chợt nhớ từ trước cả cơm chiều, cố vấn Mỹ cáo lỗi về phòng và từ đó không thấy mặt. Xem ra, chàng ta không chịu nổi sóng gió. Còn Lan Như, mệnh hệ ra sao khi ói mửa không ngưng nghỉ? Anh lần đến cửa buồng cố vấn, hỏi vọng:
– Hello Bill. Anh khỏe chứ?
Giọng nhề nhệ trả lời:
– Cũng được. Cám ơn Hạm trưởng.
Anh đi vào sâu hơn, gõ vào vách căn phòng cuối cùng. Có tiếng uể oải:
– Ai đó?
– Chỉ thăm hỏi. Cố gắng ngủ đi!
Võ Bằng bám lấy tay vịn dọc theo vách, loạng choạng đi về phía lái. Anh vừa nhìn sàn tàu vừa quan sát vách tàu. Trong phòng ăn đoàn viên, nhân viên nhà bếp đang dọn dẹp đống chén dĩa rơi bể nát. Hai thủy thủ đang gồng mình giữ ly nước để không bay khỏi mặt bàn. Một người một tay ôm ngực, một tay bụm miệng, mặt xanh xao.
Trên hai dãy ba giường chồng lên nhau, mọi người nằm yên như ngủ say. Quản nội trưởng còn thức, chào kính. Võ Bằng hỏi:
– Tất cả anh em ra sao?
– Thưa, vài thủy thủ ói quá nhiều, đuối sức nhưng không sao. Một nhân viên phòng tai đi tuần té bị thương đang được băng bó.
Võ Bằng vào phòng cứu cấp. Một người mang băng quanh ngực, mặt trắng bệch. Y tá nói hai xương sườn bị gãy. Võ Bằng an ủi thương binh và cám ơn đã tích cực trong nhiệm vụ.
Anh nói với Quản nội trưởng và Y tá:
– Lần sau, cho tôi biết ngay khi có người bị thương, bất kể nặng nhẹ.
Anh lần dò xuống phòng máy. Một hạ sĩ quan cơ khí, một thủy thủ điện khí hiện diện trong tình trạng tỉnh táo. Anh hỏi Trung sĩ Hạ:
– Không có gì bất thường chứ?
– Thưa Hạm trưởng, tôi vừa kiểm tra các vách, không thấy rỉ nước.
Anh vỗ vai Hạ:
– Tốt lắm! Tiếp tục.
Trở lên đài chỉ huy, Võ Bằng ngồi ngay vào ghế của mình. Trừ sĩ quan trực và hai nhân viên đương nhiệm, ba người túc trực nằm dài trên sàn. Không ai quan tâm sự hiện diện của anh. Anh như hòa vào con tàu. Phải, anh là Rạch Gầm. Rạch Gầm là anh. Khi sóng đập vào sườn tàu, tim anh đau như bị đấm. Khi động cơ rít lên, ngực anh nhói buốt. Thủy thủ đoàn đặt trọn niềm tin vào anh. Bằng mọi giá, anh phải giữ vững niềm tin ấy.
Hạm phó là người phát giác ra sự hiện diện của Võ Bằng. Trong bộ quần áo ướt sũng, mặt tái xanh, Tiến bước sang cạnh Võ Bằng, lên tiếng:
– Xin lỗi Hạm trưởng, chúng tôi không hay biết…
Võ Bằng cắt ngang:
– Không sao! Tôi mừng thấy các anh vẫn vững vàng…
Càng gần sáng, sóng gió càng dịu đi. Rồi, đột ngột, bầu trời xám lợt tách ra một đường nhỏ. Một cánh quạt tia sáng xé toạc màn đêm. Võ Bằng thấy tỉnh hẳn. Anh mừng rỡ lẩm bẩm: “Thủy thủ đoàn vẫn sống! Con tàu vẫn sống!”
Hạm phó nhìn Võ Bằng. Anh xúc động thấy mắt vị Hạm trưởng đỏ hoe, rơm rớm.
Mặt trời rẽ mây, sưởi ấm Rạch Gầm, hơ khô các bộ quân phục ẩm ướt trọn đêm.
Võ Bằng nâng ống dòm. Phía trước, cả một vùng biển dao động, khi thì xôn xao nhịp nhàng, khi thì tràn tới những đợt sóng hung dữ. Mặt biển xám ánh lên màu bạc lấp lánh.
Hòn Khoai đã hiện xa xa. Anh hít sâu, chuẩn bị cho hành trình đến địa điểm khả dĩ thả neo.
Anh dự trù sẽ neo nghỉ đến chiều. Nhưng thủy đạo dẫn đến điểm neo lại là thử thách cuối cùng. Hai hải lý quanh đảo là vùng đáy cạn đầy san hô. Không khéo nghỉ một ngày, hóa ra Hạm trưởng nghỉ… trọn đời!
CHƯƠNG 27
QUẦN ĐẢO GIÁNG TIÊN
Gần 8 giờ sáng, Lan Như tỉnh dậy. Người còn mệt mỏi, bụng đói cồn cào. Đêm qua nàng bỏ bữa cơm tối, lại bị ói mửa. Nàng vào nhà tắm, rửa mặt cho tỉnh táo, thay bộ kaki xanh cuối cùng may riêng cho chuyến đi này. Nàng không định mang áo có chữ Báo Chí nhưng rốt cuộc cũng khoác vào như thói quen đòi hỏi.
Theo lịch trình, còn bốn ngày nữa Rạch Gầm chấm dứt công tác. Nàng sẽ về lại An Thới, rồi bay về Sài Gòn. Bài phóng sự chiến trường lần này quá đặc biệt, chắc chắn nhật báo Ngôn Luận sẽ có thêm nhiều độc giả.
Vào phòng ăn, ba sĩ quan đang dùng bữa sáng. Võ Bằng không có mặt. Dù cố gạt đi, nàng vẫn thấy tâm tư mơ hồ một khoảng trống. Nàng thầm giận chính mình. Bao năm rèn luyện để phớt lờ mọi bóng dáng đàn ông, vậy mà giờ đây hình ảnh Võ Bằng cứ bám riết tâm trí.
Anh chiêu đãi viên mang cho nàng cháo cá nóng. Nàng húp từng muỗng một cách ngon lành, thậm chí còn muốn ăn thêm nhưng ngại hỏi. May thay, anh mang thêm cho nàng một trái chuối.
Một lát sau, anh đặt trước nàng ly trà gừng:
- Mời chị uống trà gừng. Sau cơn say sóng, uống cà phê dễ làm ói mửa thêm. Uống trà gừng cho ấm bụng.
Nàng nhấp vài ngụm, ánh mắt thoáng ngạc nhiên. Nàng hỏi:
- Trà gừng thơm quá. Anh mua ở đâu vậy?
Anh cười hiền:
- Của mẹ tôi chế ra.
- Mẹ anh còn sống chứ?
- Còn.
Lan Như bỗng nhớ đến mẹ. Nàng uống cạn ly trà, giọng chùng xuống:
- Mẹ tôi mất mấy năm rồi. Khi còn sinh tiền, bà cũng hay uống trà gừng mỗi lúc đau bụng.
- Xin chia buồn với chị.
Anh lặng lẽ quay đi, rồi mang cho nàng ly cà phê.
- Cám ơn anh. Cho tôi gửi lời thăm bà.
- Tôi sẽ chuyển.
Thường ngày, Lan Như uống cà phê thư thả, vừa nhâm nhi vừa viết bài. Nhưng sáng nay thì khác. Những gì nàng trải nghiệm trong mấy ngày qua vượt xa mọi khuôn mẫu của một bản tường trình. Sự kiện quá mới, quá dữ dội. Nàng cảm thấy bất lực trong diễn đạt giống như đêm qua bất lực trước cơn cuồng phong.
Một phần, nàng nôn nóng muốn lên boong, muốn biết Rạch Gầm đang ở đâu, chủ nhân của nó đang làm gì. Nàng tự nhủ: thôi thì chờ về Sài Gòn, tĩnh tâm ghi lại trung thực, đầy đủ.
Lan Như lên boong, chống tay vào dây an toàn mạn phải. Rạch Gầm tiến chậm dưới ánh nắng vừa hé bên trên đám mây đen bám sát chân trời. Sóng còn mang dư âm của trận cuồng phong đêm qua, nhịp vỗ vào mạn tàu như hơi thở còn mệt nhọc. Gió đã hiền hơn, phảng phất mùi phù sa miệt Cà Mau.
Hòn Khoai dần hiện ra. Những tảng đá lớn dựng đứng như những con quái vật rình rập giữa biển. Tán cây xanh rì đan xen dây leo chằng chịt, tạo nên một khung cảnh hoang vu, kỳ bí.
Lan Như trèo từng bước qua thang đứng, rồi từng bước lên thang nghiêng dẫn vào đài chỉ huy. Võ Bằng đang đứng cánh phải ra các lệnh ngắn gọn. Nàng lặng lẽ đứng sang cánh trái, cạnh sĩ quan đương phiên.
Quanh đảo, mặt nước chia thành ba vành tròn đồng tâm: vành ngoài xanh thẫm, vành giữa xám bạc và vành trong ôm sát đảo đục ngầu phù sa.
Bãi Lớn hiện ra như bãi Nha Trang thu nhỏ. Cát trắng mịn, thoai thoải. Tàu đánh cá nhấp nhô theo sóng gợn. Hàng chục mái nhà ẩn dưới rừng dừa, nghiêng nghiêng trong nắng sớm, hoang sơ, yên bình.
Võ Bằng bước sang bàn hải đồ. Những ghi chú độ sâu, những đường vòng đồng chiều sâu so sánh với con số fathometer giúp anh giữ Rạch Gầm trên hải trình an toàn. Anh hiểu rất rõ: chỉ cần lệch tay lái một chút, hoặc một quyết định vội vàng, neo nghỉ có thể biến thành vĩnh viễn nghỉ!
Một chiến thuyền từ phía bờ lướt sóng tiến ra. Đến gần, chiến thuyền quay mũi. Vị đại úy đứng trên mui đưa tay vẫy chào và ra hiệu theo sau. Võ Bằng mỉm cười hài lòng. Đó là người bạn cùng khóa, tiếp đón quá điệu nghệ. Theo sau, có nghĩa là theo thủy trình an toàn, là nhẹ bớt nỗi lo.
Còn cách bãi biển một hải lý, Đại úy Minh ra hiệu thả neo.
Võ Bằng ra lệnh ngắn, rõ:
- Hai máy ngưng. Nhận còi nhiệm sở thả neo.
Lan Như gương mặt còn tái xanh nhưng đôi mắt tỉnh táo lanh lợi, đang say sưa ngắm bãi biển trước mặt. Hình dáng cũng tựa Bãi Ngự của Thổ Châu, cũng sau rừng dừa là rừng xanh nhưng cảnh quang trầm mặc hơn, như đang chiêm nghiệm vận đời người sắp lên đảo.
Lệnh của Võ Bằng vang lên:
- Hai máy lùi 1.
Khi con tàu bắt đầu lùi, giọng anh dứt khoát:
- Hai máy ngưng. Thả neo.
Trục neo rền lên một tiếng trầm. Sợi xích thép trườn đi, rồi neo sầm sập rơi xuống biển.
Tiếng báo cáo độ dài dây neo xuống nước của Hạm phó:
- Hai mươi mét… hai mươi lăm… ba mươi mét.
- Ngưng thả neo.
Con tàu khựng lại báo hiệu neo đã cắn.
- Nhận còi tập họp.
Tiếng còi vang lên. Tất cả thủy thủ đoàn nhanh chóng tập trung ở sân sau. Võ Bằng rời đài chỉ huy, đến đứng trước hàng quân. Giọng anh trầm ấm:
- Đêm qua chúng ta đã trải qua một trận cuồng phong kinh hồn. Nhờ anh em đồng tâm hiệp lực, con tàu bình yên vô sự. Tôi thành thật ngợi khen và cám ơn tất cả.
Anh dừng lại, ánh mắt lướt qua hàng quân:
- Hôm nay chúng ta neo dưỡng sức. Sáu giờ chiều tiếp nối công tác. Trừ anh em trực, mọi người có thể lên đảo.
Chuyến chót về tàu là 5 giờ 30.
***
Chiếc Thiên Nga của Chỉ huy trưởng Duyên Đoàn 42 cập vào. Võ Bằng vội rời đài chỉ huy đến ôm người bạn cùng khóa. Khi buông bạn ra, Đại úy Minh chìa tay cho Lan Như, cười đùa:
- Nào ngờ trên tàu có người đẹp đến thế này!
Lan Như bắt tay vui vẻ:
- Hân hạnh được gặp Đại úy Duyên đoàn trưởng.
Anh xoay qua bắt tay cố vấn:
- How are you? You will see my advisor, soon.
Võ Bằng nhờ bạn cho phương tiện đưa rước nhân viên rồi cùng Cố vấn và Lan Như lên chiến thuyền vào bờ.
Con đường lát đá nhỏ dẫn đến ngôi nhà lớn nằm dưới chân đồi, giữa rừng dừa. Đó là trụ sở Duyên Đoàn 42. Ngôi nhà khang trang, tường và mái lợp fibro-ciment. Dù là cơ sở quân sự, không khí lại yên ả thanh bình.
Phòng họp rộng. Bục thuyết trình trước tấm bản đồ quần đảo Giáng Tiên treo trên vách. Đại úy Minh giới thiệu cố vấn, các sĩ quan rồi mời tất cả ngồi. Chỉ huy trưởng Duyên đoàn đứng đối diện mọi người:
- Duyên đoàn 42 hân hoan chào mừng quý bạn đến Hòn Khoai. Tên gọi này có hai nguồn gốc. Một là hình dạng của nó giống củ khoai. Hai là từ truyền thuyết, rằng ngư dân mang theo một giống khoai ra đây trồng.
Lan Như giơ tay xin hỏi:
- Thưa đại úy, như vậy cái tên Hòn Chuối cũng xuất phát từ hình dáng giống trái chuối hoặc từ truyền thuyết ngư dân mang chuối ra trồng?
Đại úy Minh lắc đầu:
- Cả hai đều không đúng. Đảo mang tên Hòn Chuối vì có nhiều chuối mọc hoang.
Mọi người cùng cười. Thấy cố vấn có vẻ không hiểu, Võ Bằng nghiêng qua Bill dịch ra tiếng Mỹ. Một nụ cười muộn.
Đại úy Minh chỉ vào hòn đảo lớn nhất:
- Đây là Hòn Khoai. Nó còn có tên Hòn Giáng Tiên. Tên Giáng Tiên do ngư dân đặt từ nét đẹp hoang sơ, huyền ảo, cây lá xanh tươi cùng hai ngọn suối róc rách ngày đêm, chẳng khác chốn bồng lai tiên cảnh, nơi tiên giáng trần.
Thấy Lan Như chăm chú nghe, anh hứng chí tiếp:
- Quần đảo Giáng Tiên gồm năm đảo: Hòn Giáng Tiên, Hòn Tượng, Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi và Hòn Đá Lẻ.
Lan Như hỏi:
- Thưa đại úy, Hòn Tượng có phải vì nó giống con voi, Hòn Đồi Mồi vì nó giống con đồi mồi?
Đại úy Minh gật đầu:
- Đúng trăm phần trăm. Nhưng với Hòn Sao thì khác. Không phải vì nó giống ngôi sao mà vì đáy biển quanh đảo có nhiều sao biển. Còn Hòn Đá Lẻ, tự tên nó đã giải thích.
- Cám ơn đại úy.
Đại úy Minh vui vẻ đề nghị:
- Để thấy tận mắt vị trí các hòn đảo và quang cảnh tuyệt vời của quần đảo Giáng Tiên, cô nên lên viếng ngọn hải đăng.
Lan Như nhìn Võ Bằng, chưa kịp hỏi xin thì Đại úy Minh hăng hái tiếp:
- Dù Hòn Khoai không lớn bằng Thổ Châu nhưng lại có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng không thua kém. Nó là tiền đồn của vùng biển phía Nam. Ngọn hải đăng sừng sững trên đỉnh đảo, vừa hướng dẫn an toàn tàu bè đồng thời cũng vừa là đài cảnh báo các tàu chiến của đối phương. Đó là lý do toàn bộ Duyên đoàn chúng tôi và một số nhân viên tình báo có mặt ở đây. Và đó cũng là lý do không ngừng diễn ra trận hải chiến trong vùng biển này.
Anh mỉm cười nhìn Võ Bằng:
- Biết chừng đâu anh bạn cùng khóa của tôi đêm nay có dịp trổ tài hải chiến.
Võ Bằng cao giọng:
- Đâu có ngán.
Đại úy Minh hỏi Lan Như:
- Cô “Báo Chí” còn thắc mắc gì không?
Lan Như ngập ngừng:
- Đêm qua thấy hai chiến thuyền của đại úy tham gia hải chiến Hòn Chuối, vậy xin phép hỏi Hòn Chuối có vai trò gì đặc biệt?
Đại úy Minh mỉm cười, giọng thân mật:
- Về phương diện quân sự, Hòn Chuối là đảo tiền tiêu tỉnh An Xuyên, rất quan trọng về mặt an ninh và chủ quyền quốc gia. Nhưng trách nhiệm phòng thủ lại thuộc về chúng tôi. Đảo có rừng rậm như Hòn Khoai nhưng không có dân cư vì không có nước ngọt.
- Xin đại úy cho biết thành tích hoạt động trong năm nay.
- Chưa hết năm nên chưa làm báo cáo chính thức. Tôi chỉ có thể nêu con số tôi nhớ. Tổng kết từ đầu năm Duyên Đoàn khám xét hàng trăm ngư thuyền. Bắt và giải giao cho chính quyền Cà Mau chín chiếc chở đầy súng đạn cùng nhiều người.
- Đánh chìm bao nhiêu chiếc?
Đại úy Minh lắc đầu:
- Chúng tôi không có súng lớn và cũng không chủ trương đánh chìm.
- Đại úy có thể cho biết có bao nhiêu chiếc chạy thoát?
- Khoảng chục chiếc.
Lan Như ngập ngừng hỏi:
- Sao lại để chúng chạy thoát?
- Khi bị phát giác, chúng bỏ chạy ra khơi. Vận tốc tàu của chúng nhanh hơn chiến thuyền. Chúng tôi bắn theo nhưng không rõ kết quả.
- Duyên đoàn của đại úy có bao nhiêu chiến thuyền?
- 23 chiếc.
- Có bao nhiêu nhân số trên một chiếc?
- Tùy loại. Lớn thì 9 người. Nhỏ thì 5.
- Khu vực trách nhiệm của Duyên đoàn 42?
- Duyên hải tỉnh An Xuyên.
- Ở đây có trại gia binh?
- Đường đi xa xôi vất vả. Trên đảo thiếu thốn mọi bề nên không ai muốn đem gia đình ra đây.
- Cám ơn đại úy rất nhiều.
Đại úy Minh mời dùng cơm trưa. Nói là cơm nhưng toàn thức ăn biển: tôm nướng, cua, ghẹ hấp.
Sau bữa ăn đồ biển thỏa thuê, Lan Như và một số nhân viên chiến hạm xin Võ Bằng cho đi thăm hải đăng Hòn Khoai. Võ Bằng định từ chối, nhưng chợt nhớ hôm qua đã từ chối không cho nàng thăm hải đăng Thổ Châu, lại thấy đôi mắt nàng nhìn anh tha thiết, nên đành nói khéo:
- Cũng như ở Thổ Châu, đường đến hải đăng rất xa và trắc trở, nhắm đi nổi thì cứ đi. Nhưng nhớ về trước 5 giờ rưỡi. Tôi không thể bỏ tàu quá lâu và cũng cần tâm sự với bạn…
Trung úy Tín, Chỉ huy phó Duyên đoàn tình nguyện hướng dẫn. Toán sáu người bắt đầu leo núi lên đỉnh Hòn Khoai. Con đường rừng quanh co, hiểm trở, dài hơn hai cây số. Có đoạn phải băng ngang qua suối nhỏ, nước trong veo. Có đoạn đá tảng, đá trứng lổn nhổn. Có đoạn đất đỏ pha cát vàng cam, có đoạn dốc đứng, dốc nghiêng leo trèo vất vả.
Rừng cây rậm rạp, xanh thẳm. Những cổ thụ trăm năm sừng sững, sáu bảy người ôm không xuể. Nhiều loại cây Lan Như chỉ nghe danh, nay nhờ Trung úy Tín chỉ cho mới thấy tận mắt: bằng lăng, sao, dầu, gỗ lim.
Lan Như thỉnh thoảng dừng lại, lắng nghe tiếng chim ríu rít, hít sâu mùi hương ngọc lan, bàng bạc mùi các loại hoa nhiều sắc màu.
Theo lời Trung úy Tín, chỉ cần nhìn rừng là biết mùa. Mùa Xuân hoa mai nở rực. Mùa hè màu tím bằng lăng. Mùa thu lá nhuộm vàng rừng. Mùa đông, màu trắng hoa cỏ lau.
Gần hai tiếng sau, họ lên tới đỉnh cao ba trăm mười tám mét. Ngọn hải đăng Hòn Khoai hiện ra, khối vuông vững chãi bằng đá hộc và xi-măng, cao mười bảy mét do Pháp xây dựng từ năm 1920. Ánh đèn pha trên đỉnh có thể chiếu xa ba mươi lăm hải lý.
Lan Như gắng leo thang xoắn lên tới đỉnh hải đăng. Hơi thở gấp gáp, chân tay rã rời. Nhưng khi nhìn quanh, nàng chợt có cảm giác như đang lơ lửng giữa trời.
Toàn cảnh Hòn Khoai mở ra hoang dã, thơ mộng. Sóng bạc đầu cuốn nhanh trên mặt biển, chia thành ba màu rõ rệt: màu xanh thẫm, màu xám nhạt, màu phù sa đục ngầu. Xa phía bắc là mũi Cà Mau. Phía đông là Hòn Sao, Hòn Đồi Mồi như con rùa biển đang bơi. Hòn Tượng phía nam trông như con voi khổng lồ đang tắm nước phù sa. Xa hơn nữa, Hòn Đá Lẻ trơ trọi thi gan cùng tuế nguyệt.
Những chiếc ghe câu vẽ lên mặt biển như những nét chấm phá mong manh.
Lan Như bỗng thấy lòng mình chùng xuống. Lần đầu tiên, không phải súng đạn, mà chính thiên nhiên khiến nàng cảm thấy nhỏ bé và dễ tổn thương đến vậy.
Giọng của Trung úy Tín vang lên giữa lúc mọi người còn mải mê ngắm cảnh:
- Đã đến lúc quay về. Để lỡ có lạc đường, còn đủ thì giờ mò về hậu cứ trước khi trời tối.
Lan Như nghe lạnh sống lưng. Lạc giữa khu rừng rậm thế này khi đêm xuống… chắc chết!
CHƯƠNG 28
TỪ NAY MÃI MÃI KHÔNG THẤY NHAU?
Ánh sáng hồng của hoàng hôn kéo một vệt dài trên mặt biển, lao xao như dải lụa mềm tan vào sóng nước. Gió lồng lộng vụt qua dây cờ kêu phành phạch, từng đợt mát rượi phả vào đài chỉ huy mang theo cảm giác an ủi mong manh của buổi chiều sắp tàn.
Rạch Gầm rời điểm neo tiến hành tuần tiễu trục Hòn Khoai – Thổ Châu. Đây là trục kiểm soát mọi tàu bè nhập vào lãnh hải phía tây Miền Nam, một trục then chốt nhưng thầm lặng và thường xuyên tiềm ẩn hiểm nguy. Tuy tầm xa radar mỗi chiến hạm là 30 hải lý, đủ thời gian chuẩn bị ứng phó xâm nhập, nhưng trở ngại lớn là thời tiết và không đủ chiến hạm bao vùng cho một trục dài 140 hải lý. Trong tương lai, hy vọng có thêm nhiều phương tiện…
Khi Rạch Gầm ra khỏi vùng san hô nguy hiểm, Võ Bằng viết nhật lệnh tuần đêm, giao trách nhiệm tuần hành cho Trung úy Đặng Thành Tài rồi rời đài chỉ huy. Theo sau vẫn là Cố vấn và Lan Như, một loài hoa biển lạc vào không gian sắt thép.
Tất cả vào phòng ăn. Bốn sĩ quan hiện diện đứng lên chào. Võ Bằng ra dấu mời ngồi, ánh mắt anh mỏi mệt sau một đêm dài căng thẳng và mất ngủ. Chiêu đãi viên mang đến từng món ăn. Trên bàn, khăn trải trắng tinh phẳng phiu, muỗng đũa inox lấp lánh dưới ánh đèn. Những ly nước đá đọng mồ hôi lạnh.
Hôm nay Lan Như mới có thời giờ nhìn quanh phòng ăn. Không rộng, nhưng trang trọng và ngăn nắp. Trên một vách treo ba bức chân dung: Tổng thống, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội và Tư lệnh Hải Quân. Trên vách đối diện là huy hiệu Trợ chiến hạm Rạch Gầm, hai bên là các Bằng Tưởng Lục, Giấy khen. Vách phía trước là hai kệ sách kỹ thuật dày cộm, xếp ngay ngắn.
Mùi thơm các món ăn khiến Lan Như thấy đói cồn cào. Cái bụng trống trơn sau ói mửa đã sớm thanh toán gọn ba món buổi trưa: tôm, cua, ghẹ. Đó là ba món ăn chơi nàng ưa thích. Nàng ngạc nhiên khi thấy ba món tối nay cũng là ba món ruột cho các bữa cơm ở quán ăn gần tòa soạn: tô canh chua cá ngừ hấp dẫn với sắc đỏ của ớt, xanh của ngò gai; đĩa thịt kho tàu với trứng, nước dừa óng ánh; và đĩa rau muống xào tỏi xanh mướt, thơm lừng. Chẳng lẽ Võ Bằng có thứ năng lực thần giao cách cảm nào đó, biết ý thích của nàng?
Võ Bằng nhìn quanh từng người, cất giọng thân mật:
– Hôm nay chúng ta có một bữa cơm khá hơn mọi ngày, coi như ăn mừng chiến thắng… địch thủ cuồng phong. Mời nâng ly, chúc sức khỏe mọi người, chúc Rạch Gầm luôn vững vàng trên sóng nước.
Các ly thủy tinh chạm vào nhau. Tiếng leng keng lẫn lời chúc tạo bầu không khí cởi mở vui tươi sau những ngày gian nan, vất vả.
Ngay sau khi Võ Bằng mời cầm đũa, Lan Như khen ngợi:
– Đi biển mà được ăn thế này thì các anh nhất thiên hạ rồi!
Võ Bằng cười, nụ cười xóa đi nét nghiêm nghị của giờ phút chỉ huy:
– Cũng thuộc loại… nghìn năm một thuở thôi. Bù cho những chuyến công tác kéo dài, không ghé được bến, chỉ có cơm với nước mắm.
Lan Như nhìn sang chiêu đãi viên, nói lớn:
– Nhờ anh chuyển lời tôi cám ơn anh em nhà bếp. Ba món đều là món ruột của tôi.
– Tôi sẽ chuyển, thưa chị.
Bữa ăn trôi qua trong những câu chuyện vui, các giai thoại sướng khổ đời đi biển, tạo tiếng cười không dứt. Sự khác biệt về cấp bậc, tuổi tác, đời lính chiến hay đời dân thường như tan biến trong không khí chân tình, cởi mở.
***
Rời bàn ăn, thấy Lan Như bước bên cạnh, Võ Bằng nói:
– Lan Như nên nghỉ ngơi. Nếu có đụng trận thì cũng phải vài tiếng nữa. Khi nghe tiếng còi dồn dập thì gom đồ nghề lên đài chỉ huy.
– Lan Như khỏe rồi, muốn lên boong ngắm hoàng hôn trên biển. Nghe nói đẹp tuyệt vời.
Võ Bằng nâng cổ tay xem đồng hồ:
– Bảy giờ rưỡi rồi. Giờ này trời đã tối thui, còn hoàng hôn gì nữa!
– Giờ này còn nhá nhem mà!
– Hoàng hôn phụ thuộc mùa và vị trí người quan sát. Mùa hè vùng này, có thể còn nhá nhem, nhưng chúng ta đang vào mùa đông, mặt trời… ngủ sớm, nhường bầu trời cho trăng sao.
Lan Như vẫn mơ ước có giây phút riêng tư với Võ Bằng nên nói như một lời mời:
– Vậy thì Lan Như lên ngắm trăng sao.
Võ Bằng nhìn nàng thật lâu:
– Một đêm ói mửa, nửa ngày leo đèo, cơ thể cô cần hồi phục. Đi nghỉ đi. Ngày mai hãy ngắm hoàng hôn.
Nàng nuôi chút hy vọng:
– Anh đi đâu?
– Tôi cũng về buồng nghỉ.
Lan Như lặng thinh, quay đi nhanh hơn cần thiết, như muốn trốn khỏi chính cảm xúc của mình. Võ Bằng đứng yên nhìn theo đến khi nàng khuất sau khung cửa. Trong khoảnh khắc ấy, hình bóng Huỳnh Như Oanh chợt hiện ra rõ ràng. Anh lắc đầu, không sao hiểu!
Về phòng riêng, anh tắm rửa qua loa rồi lăn ra ngủ. Chỉ được hai tiếng thì nhân viên truyền tin gõ cửa, trao anh công điện Kín/Thượng Khẩn từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 4:
Hai chiếc tàu đáng ngờ xuất hiện phía Tây Nam Hòn Khoai, tọa độ 8°36.57’B – 104°69.27’Đ. Yêu cầu quý chiến hạm theo dõi ngăn chận xâm nhập. Báo cáo diễn tiến.”
Võ Bằng gọi Hạm phó lên phòng chiến báo. Đọc công điện, Hạm phó cười:
– Hy vọng kiếm thêm vài huy chương nữa.
Võ Bằng nghiêm giọng:
– Trước hết là đáp “nhận hành”. Đừng để lãnh khiển trách thay vì huy chương.
Hạm phó đánh dấu tọa độ lên hải đồ. Hai mục tiêu vẫn còn ngoài hải phận quốc tế. Phải chờ chúng vượt qua ranh giới 24 hải lý mới có thể hành động. Nhưng ý đồ của chúng là gì? Một chiếc vào Thổ Châu, một chiếc về cửa sông Ông Đốc như lần trước? Hay lần này cả hai cùng hướng về một điểm đổ hàng?
Võ Bằng hỏi:
– Hạm phó dám chơi trò một đánh hai không?
Hạm phó ngập ngừng góp ý:
– Thưa Hạm trưởng, một đánh hai chẳng khác gì hai đánh một. Nghĩa là một thì lúc nào cũng ở thế yếu. Theo tôi, nên giữ hai duyên tốc đỉnh ở vùng Thổ Châu, phòng trường hợp tàu địch tách đôi. Tuy nhiên để đối phó trường hợp hai tàu địch cùng lúc tiến vào bờ, mà duyên tốc đỉnh ở xa không hỗ trợ kịp, tôi đề nghị xin tăng cường thường trực ba chiến thuyền. Như thế ta vẫn ở thế thượng phong hai đánh một.
– Đúng ý tôi.
Võ Bằng liên lạc máy với Duyên đoàn trưởng 42. Đại úy Minh chấp thuận. Anh giao CIC cho Hạm phó, rồi lên đài chỉ huy. Tiếng hô nghiêm từ cánh trái. Thấy sĩ quan trực, hạ sĩ quan, tài công, quan sát viên đều chú tâm trong nhiệm vụ, anh yên trí ngồi vào ghế chỉ huy. Gió khuya thổi mát rượi, mang hương thơm muối biển, khiến anh thiếp đi lúc nào không hay.
– Hạm trưởng… Hạm trưởng….
Tiếng gọi mơ hồ đánh thức anh dậy.
– Máy điện bị sập. Tay lái bất khiển dụng.
Võ Bằng mở mắt. Đài chỉ huy chìm trong ánh sáng đỏ từ các đèn pin dự phòng trên vách. Anh rà soát biện pháp ứng phó. Mất điện, việc đầu tiên là cho lái tay để giữ con tàu trên đường đi và cũng để tránh con tàu quay ngang gió, bị sóng tròng trành có thể lật úp. Anh hài lòng nghe Hạm phó báo cáo đang ở buồng máy đôn đốc việc phục hồi nguồn điện.
Anh ra lệnh Thiếu úy Lũy đưa nhân viên thành thạo xuống hầm lái tay và chỉ thị Trung úy Tuấn cho ban vận chuyển sẵn sàng thả neo. Võ Bằng bật đèn dự phòng xem hải đồ. Anh yên trí thấy tàu trong vùng độ sâu 20 mét.
Trong CIC, Trung úy Tài bám chặt bàn trận đồ. Hai nhân viên giữ máy DRT và các vật dụng lỏng lẻo. Các điều hành viên ưu tư chờ đợi. Lúc này mà hai tàu địch xuất hiện thì vất vả lắm đây.
Không còn hệ thống điều hòa, lòng tàu bắt đầu nóng lên. Một số thủy thủ lên boong, càu nhàu vì mất giấc ngủ.
Khi hầm lái tay báo cáo sẵn sàng nhận lệnh, bất ngờ, đèn bật sáng. Nhiều tiếng reo vỡ òa. Sóng vỗ mạn tàu như chung niềm nhẹ nhõm.
Thiếu úy cơ khí Ngô Quang xuất hiện, người lem dầu mỡ, vừa thở vừa trình bày:
– Thưa Hạm trưởng, máy điện sập là do cảm ứng điện bị hư, đã thay cái mới.
Võ Bằng đặt tay lên vai anh:
– Giỏi lắm. Cám ơn em.
Mắt Quang sáng lên, lấp lánh niềm tự hào.
Sự kiện mất điện không hề quấy rối giấc ngủ của Lan Như.
***
Đêm kéo dài như không dứt. Ba giờ sáng, cặp Duyên tốc đỉnh và Rạch Gầm gặp nhau trên trục Hòn Khoai – Thổ Châu rồi trở hướng ngược lại. Hai chiếc tàu nghi vấn vẫn ở yên tại chỗ. Có thể là tàu đánh cá Thái Lan, cũng có thể tàu địch chờ ta sơ hở. Biển lao xao như cùng chia sẻ sự nôn nóng, băn khoăn.
Võ Bằng ghi biến cố sập máy điện, nguyên nhân, thời gian sửa chữa vào Nhật ký Chiến hạm rồi trở về buồng riêng. Anh hoàn toàn kiệt sức…
Nhưng chỉ vừa chìm vào giấc ngủ thì tiếng chuông vang lên. Trong khoảnh khắc, Võ Bằng không thể tin nổi là có tiếng đang reo. Anh tưởng mình nằm mơ. Nhưng, khi tiếng reo tiếp tục, khoan sâu vào não, anh choàng tỉnh. Trong cảm giác ngán ngẩm, anh ráng ngồi bật dậy chụp ống nghe:
– Hạm trưởng nghe đây.
– Thưa Hạm trưởng, đây Trung úy Tuấn. Tôi vừa thấy ba trái sáng màu đỏ liên tục được bắn lên.
Võ Bằng lẩm nhẩm: Ba trái sáng màu đỏ. Ba trái sáng màu đỏ. Pháo hiệu kêu cứu. Đâu lẽ một tàu nào đó sắp chìm kêu gọi cấp cứu? Anh hỏi phòng truyền tin:
– Phòng truyền tin, có nhận được tín hiệu SOS?
– Thưa không.
– Rà soát tần số cấp cứu quốc tế 7903 kHz thật kỹ xem.
Một phút sau, phòng truyền tin đáp:
– Đã rà tần số 7903, không thấy tín hiệu SOS!
– CIC, cho biết écho phía nam cách bao xa?
– Hai écho vẫn cách 30 hải lý.
– Xem kỹ đi. Để ý một écho, có thể là điểm mờ.
– Thưa 16 hải lý.
Như vậy cũng không xa lắm, chừng một tiếng là tới nơi – Võ Bằng ngẫm nghĩ – nhưng nếu đó là trò đánh lừa, mình bỏ trống vùng trách nhiệm để địch xâm nhập, đi tù là cái chắc. Anh quyết định gửi công điện báo về Bộ Tư Lệnh Vùng:
“TTKT. Chiến hạm ghi nhận ba trái sáng đỏ báo hiệu cần cứu cấp ở tọa độ 8°24.73’B – 104°57.69’Đ. Xin cho chỉ thị.”
Mười phút sau, công điện trả lời:
“Xác nhận một tàu chở dầu đang chìm tại tọa độ ghi nhận. Y/C khẩn đến cứu vớt thủy thủ đoàn.”
Võ Bằng đáp nhận hành rồi kẻ hải trình mới. Anh lệnh cho ba chiến thuyền bao vùng rồi quay mũi về hướng Nam, chạy hết tốc độ. Tàu xuôi sóng gió, lướt êm. Một giờ sau, chiếc tàu dầu hiện ra dưới ánh hỏa châu. Qua ống dòm, thân tàu trông già nua, sơn trắng bong tróc, loang lổ rỉ sét. Nó chúc mũi lên trời, phần lái gần chìm hẳn. Một số người mặc áo phao màu cam đứng trên boong mũi, hớn hở vẫy tay. Võ Bằng ra lệnh:
– Nhận còi nhiệm sở cứu người.
Tiếng còi, tiếng chân chạy rầm rập đánh thức Lan Như. Nàng vội thay quần áo, chụp máy ảnh chạy lên đài chỉ huy. Nhưng khi bước ra boong, thấy nhiều người lăng xăng bên mạn trái, nàng thắc mắc đứng quan sát.
Trên đài chỉ huy, Võ Bằng cân nhắc sức gió, độ sóng và quyết định áp sát tàu dầu. Anh ban lệnh rọi đèn pha. Hàng chục vỏ xe thả dọc theo hông. Tàu dầu thả năm trái đôn trắng hình trụ.
Khi hai chiếc cặp kè, thay vì nhảy qua, bảy người lần lượt ném xách tay và chuyển từng thùng hàng. Cuối cùng, không còn gì trên boong, họ mới chịu bỏ tàu.
Võ Bằng nhíu mày: tại sao họ coi hàng hóa quan trọng hơn mạng sống? Ký ức về trái bom thời chỉnh của Phan Kim Phượng thoáng hiện. Chỉ một trái bom suýt làm anh tàn đời, nay có đến hai mươi thùng! Dù chứng kiến tận mắt chiếc tàu dầu đang chìm, anh cũng sẽ cho an ninh cẩn thận khám xét.
Lan Như lòng mừng khấp khởi. Diễn tiến việc cứu vớt đã được lưu lại đầy đủ trong máy ảnh của nàng. Đây mới thật là… nghìn năm một thuở.
Rạch Gầm rời tàu dầu, hướng về An Thới. Công điện báo cáo cứu được toàn bộ thủy thủ đoàn bảy người và xin chỉ thị.
Võ Bằng xuống boong, bắt tay từng nạn nhân, cho cấp thức ăn nước uống. Riêng thuyền trưởng được mời vào phòng họp sĩ quan. Lan Như nhường ghế, xuống ngồi cuối bàn. Võ Bằng mời Thuyền trưởng hoặc cà phê hoặc nước lạnh. Thức ăn đến sau. Ông chọn nước lạnh.
Thuyền trưởng người Thái Lan, lớn tuổi nhưng rắn rỏi. Bằng tiếng Anh trôi chảy, ông ngỏ lời cảm tạ được cứu mạng. Ông trình bày chở dầu từ Mã Lai đi Bangkok. Thân tàu bị nứt sau lái, nước tràn vào. Đã dùng mọi phương tiện để lấp kín nhưng không hoàn toàn thành công. Máy điện ngâp nước hư hỏng. Chỉ gọi cấp cứu được vài lần. Đánh đèn SOS cũng không thấy đáp ứng.
Ông uống cạn ly nước, ngập ngừng tiếp:
– Thưa Hạm trưởng và quý anh, hai mươi thùng hàng là rượu XO, xin biếu chiến hạm.
Võ Bằng từ chối. Ông thuyền trưởng gần như van xin. Lan Như nhẹ giọng:
- Thưa Hạm trưởng và quý anh, ông ấy đã có lòng.
Võ Bằng còn ngần ngừ thì công điện của Vùng 4 gửi đến: “Quý chiến hạm đưa bảy thủy thủ tàu dầu về thẳng Sài Gòn. Tòa Đại sứ Thái Lan sẽ tiếp nhận tại cầu C. Đáp nhận hành.”
Võ Bằng đọc lớn cho mọi người nghe. Cả phòng vỗ tay, mừng được về Sài Gòn sớm hơn bốn ngày. Anh đọc riêng cho anh một lần nữa, lòng se thắt. Về thẳng Sài Gòn tức là không trở lại An Thới, là không nhận được lời nhắn của Huỳnh Như Oanh. Từ nay nàng là bóng chim tăm cá, biết đâu tìm. Từ nay mãi mãi không thấy nhau?
CHƯƠNG 29
CHỢT ĐẾN CHỢT ĐI
Rạch Gầm đổi hướng, tiến về Sài Gòn lúc sáu giờ sáng. Dự trù đúng tám giờ sáng hôm sau tàu sẽ về đến bến.
Khi Hạm phó và Quản nội trưởng sắp xếp xong chỗ tạm trú cho bảy người tàu dầu, trời cũng vừa hửng sáng. Vùng ửng hồng đầu tiên không đến từ mặt trời, mà từ những tia cam nhạt xuyên qua không gian còn u tối. Lan Như đứng trước sân mũi, nâng chiếc Nikon lên chụp liên tiếp, từ lúc mặt trời đỏ au từ từ ló dạng cho đến khi nhô hẳn khỏi mặt nước, rực rỡ như chớm nở tình đầu.
Nàng hít một hơi thật sâu. Gió sớm lành lạnh, phảng phất mùi đại dương thanh khiết lẫn khói dầu khen khét.
Một giọng nói trầm ấm vang lên sau lưng:
– Chào cô Lan Như. Cô làm việc sớm quá.
Lan Như quay lại. Trung úy Tuấn gật đầu chào. Nàng thoáng buồn, đáp:
– Chỉ vì muốn ghi bình minh của ngày chót trên biển.
Tuấn cười:
– Còn với Rạch Gầm thì sao? Đã có gì để lưu niệm chưa?
– Vô số. Nhưng với anh thì chưa. Xin cho một bức ảnh Trung úy Tuấn và bình minh, nghen?
Tuấn lặng thinh, hướng mắt về đốm sáng trắng đang loang dần trong nền cam dọc chân trời. Mặt biển hiền hòa mênh mông. Bên trên là những vệt mây hồng thưa thớt. Qua khung ngắm, Lan Như thấy khuôn mặt hằn nét mỏi mệt của Tuấn nổi bật trên nền sắc trời lộng lẫy.
Tuấn quay lại, bước gần nàng hơn:
– Tôi đã đi biển liên tiếp năm năm, đã nhiều lần ngắm bình minh, hoàng hôn. Điều khiến tôi yêu thích là không ngày nào giống ngày nào.
Lan Như nhỏ nhẹ:
– Tôi tiếc là chỉ tới hôm nay mới thưởng thức được. Đẹp thật. Tôi đang mong chờ hoàng hôn.
– Những ngày ở biển cô có cảm tưởng ra sao?
Nàng hít hơi, thở nhẹ:
– Biển hiền hòa mà cũng rất bạo tàn.
– Còn riêng với Rạch Gầm?
Lan Như cười như mếu:
– Là một mớ hỗn độn. Ngạc nhiên, thán phục, thích thú… và một nỗi buồn mơ hồ. Nếu không xuống chiến hạm, tôi không bao giờ nghĩ các anh sống vất vả và nguy nan đến vậy. Vừa chống chọi sóng gió, vừa đối diện kẻ thù…
– Hôm trước cô nói cô chưa lập gia đình?
– Chưa anh ạ. Nhưng sau chuyến đi này, tôi bắt đầu nghĩ đến chuyện đó.
– Chẳng lẽ cô cũng chưa từng yêu ai?
Lan Như lặng thinh. Một tình cảm vừa chớm nở có được gọi là “từng” không? Nàng khẽ lắc đầu:
– Chưa, anh Tuấn ạ. Tôi quá bận rộn với các chiến trường.
Tuấn cười mím chi:
– Tôi nghĩ là cô đang… mở cánh cửa lòng.
Lan Như quay mặt ra biển. Sóng vẫn lao xao. Tuấn nhận xét quá đúng. Rạch Gầm không chỉ xuôi về bến. Con tàu mang theo cả tâm trạng của nàng.
Tuấn chào từ biệt:
– Tôi đùa thôi. Miễn thứ. Rất vui được trò chuyện với cô.
Lan Như thả máy ảnh xuống ngực, hai tay nắm sợi dây an toàn. Gió vờn chiếc áo pullover màu chàm. Biển đã rực sáng, loang loáng xanh. Nàng nghĩ, nếu được tòa soạn cử công tác thường trực trên các chiến hạm, nàng sẽ không từ chối. Nhất là trên Rạch Gầm. Nàng biết, đó là hy vọng mong manh.
***
Mặt trời nhô lên rất chậm, như cố nán lại.
Bất giác Lan Như ngẩng nhìn đài chỉ huy. Nàng chợt rung động. Võ Bằng đang nhìn xuống. Anh vẫy tay, ra dấu sẽ xuống gặp nàng.
Nàng nhớ đêm qua, sau bữa cơm. Nhớ cái nhìn của anh khi từ chối lên boong. Một thẳng thừng né tránh. Khi ấy nàng vô cùng hụt hẫng. Giờ đây nàng hiểu: đó là sự rút lui cần thiết của một người chỉ huy. Thủy thủ đoàn sẽ nghĩ gì nếu thấy hai người bên nhau trong đêm?
Võ Bằng đang đến. Phút giây nàng ao ước. Bao nhiêu buồn phiền tan biến. Nàng nhìn ra khơi, không muốn anh thấy gương mặt mình quá hớn hở.
Võ Bằng mang theo hai ly cà phê. Giọng anh vang lên trước khi dừng bước:
– Chào Lan Như. Thức cả đêm mà giờ này vẫn dậy sớm?
– Chào Hạm trưởng. Câu đó phải để Lan Như nói mới đúng. Cô ấy còn ngủ được vài tiếng, anh thì không!
Anh đưa nàng ly cà phê:
– Sáng đã chụp bình minh, chiều chụp hoàng hôn là đủ bộ.
Nàng đón lấy ly cà phê. Ngón tay họ chạm nhau trong khoảnh khắc. Một chạm điện nhẹ.
– Cảm ơn anh.
Ánh nắng dìu dịu làm lộ rõ nét mệt mỏi trên gương mặt Võ Bằng không khác Trung úy Tuấn. Nàng nâng máy ảnh:
– Xin phép cho Lan Như giữ một kỷ niệm.
Võ Bằng nhìn xa. Kỷ niệm để làm gì, chỉ thêm đa mang. Nhưng từ chối thì không nỡ. Lan Như bấm máy:
– Cảm ơn anh. Rất độc đáo. Chỉ anh và biển.
Anh nói chầm chậm:
– Anh phải nói lần nữa. Lan Như nên đi nghỉ.
– Lan Như không mệt.
Lời thốt ra nhẹ như hơi thở. Cả hai im lặng. Nhấp cà phê. Võ Bằng nhận hiểu ánh mắt ấy – thương yêu, không đòi hỏi. Anh chuyển hướng:
– Sài Gòn chắc nóng lắm. Chưa về mà đã thấy như bước vào thế giới khác.
– Lan Như cũng có cảm tưởng như vậy.
– Nhưng với anh… tệ hơn là không biết về đâu.
– Không biết về đâu? Lạ, người như anh …
Anh lắc đầu:
– Xem vậy mà không phải vậy.
Lan Như không hỏi thêm. Họ lặng lẽ nhìn ra khơi. Rồi Võ Bằng lên tiếng:
– Bài phóng sự, Lan Như viết đến đâu rồi?
– Chỉ mới viết… trong đầu!
– Anh rất nôn nóng muốn đọc.
– Báo in ra, Lan Như sẽ mang xuống tàu.
– Không cần. Anh tự tìm đọc được.
– Lan Như muốn đích thân mang đến. Anh đọc ưu tiên.
Võ Bằng lắc đầu:
– Tàu phải vào Công xưởng sửa chữa. Khó tìm và khó vào.
Nàng nhìn anh, ánh mắt tinh ranh:
– Anh quên Lan Như là nhà báo sao? Thẻ Báo Chí như Sổ Thông Hành.
Cả hai cùng cười, nụ cười không hứa hẹn. Giọng Lan Như trở nên sôi động:
– Lan Như sống với nghề hết mình. Đi. Thấy. Viết. Ngoài ra không có gì ràng buộc.
Nàng ngừng lại, mắt nhìn thẳng mắt anh, giọng êm ái:
– Cho đến khi… gặp anh.
Võ Bằng thoáng chới với trước thổ lộ bất ngờ, còn đang tìm lời hóa giải thì nàng tiếp:
– Lan Như không có ý chiếm lấy tình cảm của anh. Chỉ muốn nói rằng, Lan Như lúc rời tàu không còn là Lan Như lúc lên tàu. Từ lâu, Lan Như tưởng mình đã hóa đá nhưng nào ngờ tình yêu mạnh hơn chủ nhân của nó.
Anh chọn từng chữ:
– Anh trân trọng điều đó. Nhưng…
Lan Như chớp mắt, đợi chờ. Võ Bằng thở hắt, giọng đều đều:
– Phải chi Lan Như đến An Thới sớm hơn. Chỉ mới đây thôi, chính xác là ba tuần, cũng tại nơi này, anh gặp một người giống giống Lan Như. Tình cảm của anh, cũng tưởng đã hóa đá, nào ngờ từ phút gặp gỡ, hình ảnh đó cứ theo anh đến tận cả phút giây sinh tử.
Lan Như thở dài, im lặng. Võ Bằng tiếp:
– Thôi thì chúng ta hãy coi chuyến đi như một bức hình độc đáo và giữ riêng như một kỷ niệm. Đẹp và không buồn.
Lan Như nhìn anh thật lâu, như nhìn lần cuối:
– Mối tình nào không toại nguyện mà không buồn.
Giọng nàng lạc đi:
– Nhưng Lan Như được chút an ủi. Ít nhất nó được anh trân trọng.
Xa xa, một chiến hạm chạy ngược chiều, một vệt khói vắt ngang không gian. Nàng nghĩ đến biển, mùi dầu, những đêm hải chiến, cuồng phong, những ánh mắt vội vàng giữa ranh giới sống chết. Và nàng cũng thấy rõ, chuyến đi không giản dị chỉ như là một bức hình độc đáo để giữ làm kỷ niệm. Chuyến đi chuyên chở cả một tình yêu đầu đời…
***
Đúng tám giờ, họ cùng nhau xuống phòng ăn sáng. Các sĩ quan hiện diện gần đông đủ. Anh cho mời thuyền trưởng tàu dầu tham dự. Trong lúc ăn, Võ Bằng nêu ra vấn đề 20 thùng quà của tàu dầu tặng. Anh hỏi Trung úy Tuấn kết quả khám xét. Tuấn nói:
– Thưa Hạm trưởng. Đúng là rượu XO, không có gì nghi ngờ. Tổng cộng có 120 chai.
Võ Bằng quay qua Thuyền trưởng:
– Thuyền trưởng Jongrak. Đại diện chiến hạm, xin cám ơn các ông tặng quà.
Thuyền trưởng vui vẻ nói, “Không có chi”. Võ Bằng hướng về các sĩ quan:
– Tôi từng có dịp uống loại rượu này. Rất ngon và khá đắt tiền, là món quà đúng dịp Tết sắp đến. Nhưng nên phân phối thế nào cho hợp lý, ai cũng nhận quà vui vẻ.
Hạm phó Tiến lên tiếng:
– Tôi đề nghị trên căn bản là mỗi người một chai. Còn lại chia theo cấp bậc. Tôi cũng đề nghị tặng cho cố vấn và cô phóng viên mỗi người một.
Các sĩ quan hoan hô. Hạm phó lấy bút giấy tính toán, rồi nói:
– Nếu chia theo cách đó, tổng số là 109 chai, còn dư 11.
Võ Bằng nhíu mày:
– Để công bằng, nên chia thêm một cho mỗi người tiếp chuyển thùng quà qua chiến hạm.
Hạm phó nói:
– Rất công bằng. Vậy thì còn 4 chai. Tôi đề nghị mình giữ trên tàu, uống mừng ba ngày Tết.
Võ Bằng lắc đầu:
– Tuyệt đối không uống rượu trên tàu. Dù có vẻ nghịch lý nhưng nên dành cho hai chiến hữu bị thương.
Tất cả vui vẻ tán thành. Võ Bằng tiếp:
– Xong vụ quà. Hạm phó tập họp nhân viên trong ngày hôm nay nêu quyết định phân phối. Mọi việc phải xong trước khi về đến Sài Gòn. Ngay bây giờ, lấy cho tôi hai chai.
Hạm phó mang đến trao Hạm trưởng. Võ Bằng tặng Cố vấn và Lan Như:
– Happy New Year 1970!
Mọi người rời bàn ăn. Lan Như về phòng riêng. Nàng ngủ say như đã uống cạn chai rượu.
***
Sông Sài Gòn sáng sớm mở ra trước mũi tàu như một dải lụa xám, chảy chậm, mang theo mùi bùn ngai ngái và hơi nóng ngột ngạt của thành phố. Rạch Gầm giảm tốc khi ngang thương cảng. Thương thuyền chiếc cập, chiếc neo. Trên bờ, các kho hàng quét vôi trắng xếp thành dãy. Một khung cảnh quen mà vẫn lạ sau những ngày dài ở biển.
Từ đài chỉ huy, Lan Như say mê ngắm mọi vật liên tục lùi về phía sau. Cái nhìn của nàng lúc này không dành cho nghề nghiệp. Nó hoàn toàn thuộc về khoảnh khắc chia ly.
Tiếng còi tập họp vang lên. Thủy thủ đoàn xuất hiện trong tiểu lễ trắng đứng dọc theo tả hạm. Thành phố đã hiện ra trước mắt, nhộn nhịp mà thờ ơ. Rạch Gầm chầm chậm ngang qua cột cờ Thủ Ngữ, khách sạn Majestic, đường Tự Do.
Sau hồi còi của anh giám lộ, mọi người đưa tay chào Đức Thánh Trần Hưng Đạo, chào Thủ đô Sài Gòn, chào Tư Lệnh Hải Quân. Tiếng còi giải tán khi qua khỏi Bộ Tư Lệnh.
Trong quân phục trắng chỉnh tề, Võ Bằng bình thản ban các lệnh điều khiển con tàu quay mũi hướng hạ dòng tiến vào cầu C.
Con tàu từ từ cập vào, êm ái, nhịp nhàng. Khi dây đã buộc xong, thủy thủ đoàn rời nhiệm sở. Đường Bạch Đằng vắng vẻ. Đường Cường Để lưa thưa xe cộ. Không gian hững hờ, trống trải.
Cầu C không bóng người, không như công điện Vùng 4 thông báo có các giới chức tòa đại sứ Thái Lan hiện diện tiếp nhận bảy nhân viên tàu chìm.
Từ đài chỉ huy, Võ Bằng xuống thẳng phòng ăn. Điểm tâm giản dị: bánh mì, trứng chiên. Anh nhấp vài ngụm cà phê, nhìn Lan Như. Nàng gượng nở nụ cười:
– Đã đến lúc chia tay! Xin cám ơn Hạm trưởng và thủy thủ đoàn đã tiếp đãi nồng hậu. Lan Như sẽ không bao giờ quên. Xin chúc tất cả luôn vui khỏe, thêm nhiều thành tích và an toàn về bến. Mong có dịp gặp lại.
Trung úy Tài cười nói:
– Nhớ đừng quên lời hứa!
Lan Như ngạc nhiên:
– Lời hứa? Tôi đã hứa gì?
– Cô hứa rằng chừng nào hết thích bay nhảy mà tôi chưa có vợ, cô sẽ ưu tiên chọn tôi.
Lan Như cười tươi:
– À, tôi nhớ rồi! Vậy thì chúc anh sớm có vợ.
Những tiếng cười giòn giã. Võ Bằng cho biết tiếp theo là họp nội bộ. Cố vấn và phóng viên có thể rời tàu.
Cố vấn ra đi trước. Vài phút sau, Lan Như cổ đeo máy ảnh, hai tay hai túi xách bước qua phòng ăn. Võ Bằng chỉ thị chiêu đãi viên hỗ trợ đưa nàng lên hạm kiều.
Các sĩ quan vẫy tay từ biệt. Giọng Võ Bằng trầm ấm:
– Chia ly bao giờ cũng buồn nên chúc Lan Như luôn được vui. Nhớ là chiến hạm nôn nóng chờ đọc các bài phóng sự.
Lan Như quay đi, bước vào hành lang. Nàng bước đều, không ngoái lại…
CHƯƠNG 30
Biết Đến Bao Giờ
Tiếng chuông báo giờ giải lao vang lên. Trong khoảnh khắc, sân trường rộn ràng các tà áo trắng, bốn hướng rôm rả tiếng gọi tiếng cười.
Huỳnh Như Oanh bước chậm vào phòng giáo sư, rót ly nước lạnh, ngồi vào ghế trống giữa bàn dài. Nàng nghĩ, nếu không có mươi phút xả hơi này, có lẽ nàng đã ngất đi ngay trên bục giảng”. Đêm qua, tự dưng nàng mất ngủ, có thể do soạn bài quá khuya rồi quá giấc. Và từ lúc đó, nàng cứ nghĩ ngợi miên man. Muốn xin dạy trường khác mà trường nào? Lấy lý do gì? Võ Bằng đã nhận được thư của nàng chưa? Chừng nào anh về? Khi về có đến nàng không? Cũng may hôm nay chỉ dạy nửa buổi, nàng chỉ cần cố gắng thêm hai tiếng nữa thôi…
Như Oanh khép mắt, thở đều, cố gạt ra ngoài tai những câu chuyện rì rầm quanh bàn: chuyện người yêu, chuyện chồng con, chuyện gia đình. Nhưng đoạn đối thoại của hai cô giáo ngồi đối diện khiến nàng mở mắt.
– Báo hôm nay có bài phóng sự về chuyến công tác của một chiến hạm ở vùng đảo Thổ Châu, Phú Quốc. Tác giả ký tên Lan Như. Lan Như thì hẳn là đàn bà. Đàn bà đi trên tàu chiến! Khó tin quá. Dám ông nào lấy bút danh đàn bà cho thêm phần hấp dẫn!
Như Oanh nhìn sang. Cô bạn đồng nghiệp còn đang đọc. Nàng nôn nóng chờ đợi. Bài viết về chiến hạm hoạt động vùng Phú Quốc, biết đâu… biết đâu có nhắc đến chiến hạm của Võ Bằng. Nhưng mãi đến khi chuông báo hết giờ giải lao, cô bạn mới bỏ tờ báo xuống.
Như Oanh nấn ná chờ cô bạn ra khỏi cửa, vội vàng cầm tờ báo lên. Dòng tựa hiện ra rõ ràng đến nhói tim: “Chiến hạm Rạch Gầm: Pháo đài di động giữa trùng khơi Thổ Châu”.
Mắt nàng dán chặt vào bức ảnh nhỏ chiếm một góc trên trang nhất, chụp Võ Bằng đang nghiêng người chỉ tay về hòn đảo hiện giữa biển mênh mông.
Nàng định đọc tiếp nhưng bài khá dài, vội uống ly nước rồi đi nhanh về lớp. Một cảm giác lẫn lộn tràn ngập: vui mừng, nhung nhớ, lo âu… Nàng ra đề cho học sinh làm bài, rồi ngồi thừ người…
Đúng mười hai giờ trưa nàng rời trường. Trên đường về, nàng ghé sạp báo mua tờ Ngôn Luận.
***
Vào phòng riêng, nàng mở tờ báo đọc không sót một chữ:
“Phóng sự chiến trường đặc biệt của Lan Như.
Ngày 3 tháng 12 năm 1969, tôi đến An Thới sau nửa ngày xe đò từ Sài Gòn và bốn tiếng trên một chiến đỉnh từ Rạch Giá. Tôi được Căn cứ Hải Quân An Thới cấp cho một phòng tạm trú và sáng hôm sau được Đại tá Lương Đình Thám Tư lệnh Hải Quân Vùng 4 Duyên hải tiếp kiến.
Ông nói qua về lực lượng và vùng trách nhiệm của ông. Với mười lăm ngày công tác của tôi, ông chỉ định tôi tháp tùng Trợ chiến hạm Rạch Gầm HQ 266 trong tám ngày đầu. Sau đó tôi sẽ chuyển sang một chiến hạm khác…
Người tôi gặp ở bãi biển một ngày trước đó cho tôi cái cảm tưởng là một tên phất phơ, hóa ra là hạm trưởng chiếc Rạch Gầm. Ông tiếp tôi bằng thái độ dè dặt nhưng tử tế. Tôi được ăn ở trong khu vực sĩ quan, được tự do tiếp xúc thủy thủ đoàn và tìm hiểu chiến hạm.
Chín giờ sáng ngày 5 tháng 12, Rạch Gầm rời quân cảng An Thới. Khi con tàu ra khỏi cửa vịnh, đất liền biến mất rất nhanh. Quanh tàu, mặt nước phẳng lặng, mênh mông, trải dài đến tận đường chân trời. Thỉnh thoảng, một đàn hải âu vụt ngang mũi tàu, lượn vài vòng rồi mất hút.
Gió nhẹ từ hướng đông bắc, biển êm, thuận lợi cho hải trình dài bốn tiếng đến quần đảo Thổ Châu – một vị trí tiền tiêu quan trọng ở cực Tây Nam lãnh hải.
Rạch Gầm là loại trợ chiến hạm thiết kế gọn nhưng trang bị súng lớn nhỏ đủ loại, thích ứng chiến đấu mọi tình huống và hoạt động dài ngày không cần tiếp tế.
Màu nước biển thay đổi rõ rệt. Càng xa đất liền màu càng đậm hơn. Từ xanh nhạt chuyển dần sang xanh thẫm, báo hiệu tàu đã đi vào vùng nước sâu hơn. Sóng và gió tương ứng với độ di chuyển mặt trời. Càng trưa và về chiều, gió mạnh dần, sóng thêm cao.
Từ đài chỉ huy, mệnh lệnh được ban ra ngắn gọn, chính xác. Các ca trực nối tiếp nhau. Tiếng máy tàu gây nên âm nhịp, đều đều kiên trì như hơi thở của chiến hạm.
Các sĩ quan thường xuyên theo dõi vị trí, điều chỉnh hướng đi phù hợp với dòng chảy, độ giạt.
Tôi bắt đầu cảm phục sự phối hợp nhịp nhàng chặt chẽ, đòi hỏi mức chính xác và kỷ luật cao. Với người lính biển, đó là công việc thường ngày. Nhưng với tôi, đó là hình ảnh hoàn toàn khác biệt với đời sống trên đất liền: xô bồ, bon chen, ồn ào, hời hợt.
Sau hành trình hơn ba tiếng, hình dáng vài đảo nhấp nhô hiện ra. Rồi một đảo lớn với tháp hải đăng vút lên nền trời: Đảo Thổ Châu.
Khi chiến hạm chạy vòng quanh đảo, tôi có cảm tưởng như đang đi quanh một viên ngọc khổng lồ. Chín đảo nhỏ vây quanh như chín đóa hoa khoe sắc giữa biển khơi…
– Ngày mai: Trận hải chiến kinh hồn ở Hòn Chuối”.
Như Oanh đọc mà quên cả thở. Dù không một lần nhắc đến tên Võ Bằng, mỗi chữ gợi bao nỗi nhớ, bâng khuâng. Đã bao lâu rồi, kể từ lần cuối cùng đứng bên anh nơi bãi biển? Chỉ chưa đầy một tháng mà như lâu lắm rồi.
Nàng đứng dậy, nôn nao, bần thần.
Trận hải chiến kinh hồn?
Ác liệt, khủng khiếp đến mức nào?
Võ Bằng có mệnh hệ gì không?
Nàng ngồi thẫn thờ, ý nghĩ chồng chéo. Cuối cùng, Như Oanh quyết định: nàng phải gặp phóng viên Lan Như. Chỉ qua Lan Như, nàng mới có thể biết rõ thêm về hiện trạng của Võ Bằng, mới hy vọng gặp lại. Nhưng nếu Lan Như là đàn ông và tòa soạn không muốn cho gặp…
***
Chiếc xích lô dừng trước Tòa soạn báo Ngôn Luận trên đường Phạm Ngũ Lão. Như Oanh bước vào, hơi ngập ngừng trước không khí bận rộn của tòa soạn. Khi nàng trình bày lý do, cô thư ký chỉ vào chiếc bàn phía trong.
Một thiếu nữ trẻ đang chăm chú đánh máy. Ánh đèn bàn tỏa sáng khuôn mặt trái xoan thanh tú, mái tóc cắt ngắn ôm bờ vai.
Như Oanh nhỏ nhẹ:
– Xin lỗi, chị là phóng viên Lan Như?
Thiếu nữ ngẩng lên. Đôi mắt sáng, thẳng thắn, hơi ngạc nhiên:
– Tôi đây. Có việc gì, hả chị?
Như Oanh hít sâu, rồi thở ra mọi lo lắng, hồi hộp:
– Tôi là Huỳnh Như Oanh. Tôi vừa đọc bài phóng sự của chị. Tôi… tôi muốn hỏi thăm… một người trên chiến hạm Rạch Gầm.
Lan Như ngưng đánh máy. Ánh mắt như xuyên thấu từ từ dịu lại. Linh cảm cho biết người đối diện là ai, nàng nhẹ giọng:
– Chị muốn hỏi thăm về Hạm trưởng Võ Bằng, đúng không?
Như Oanh sững sờ:
– Sao… Sao chị biết?”
Lan Như đứng dậy, giọng êm ái:
– Ở đây ồn ào. Chúng ta đến nơi khác nói chuyện, tiện hơn.
Quán cà phê gần tòa soạn, vắng khách. Nhạc tiền chiến nhẹ vang, êm và ấm.
Hai người ngồi đối diện, lặng lẽ quan sát nhau. Lan Như ngắm kỹ hơn người con gái được Võ Bằng để mắt đến. Gương mặt hiền hậu, đôi mày cong trên đôi mắt to đen. Tóc phủ bờ vai. Vẻ âu lo không che giấu. Một người con gái đủ dịu dàng để Võ Bằng thương yêu.
Như Oanh cũng ngắm Lan Như: mảnh mai, năng nổ, ánh nhìn thẳng thắn, đôi môi gợi cảm. Nếu Võ Bằng có rung động trước người con gái này cũng không có gì là lạ. Đã đến lúc rút lui như đã rút lui với Vinh chăng?
Khuấy đường cho ly cà phê, Như Oanh lên tiếng:
– Sao chị biết tôi muốn hỏi về Hạm trưởng Võ Bằng?
Lan Như mỉm cười:
– Có lần anh ấy nhắc đến chị.
Như Oanh nghe rung động. Lan Như mỉm cười tiếp:
– Không chỉ nhắc mà còn thú nhận là… yêu chị.
Như Oanh giật mình:
– Xin đừng nói chơi…
Lan Như khẽ lắc đầu:
– Tôi nói thiệt.
Như Oanh đi thẳng vào mục đích:
– Chị có biết anh ấy chừng nào về Sài Gòn?
Lan Như lại mỉm cười:
– Về rồi!
Như Oanh cúi đầu, cổ như nghẹn lại:
– Xin chị đừng đùa cợt nữa. Tôi rất cần biết tin tức về anh ấy.
– Tôi nói đứng đắn mà. Anh ấy đã về và đã thú nhận với tôi anh ấy yêu chị.
Như Oanh mắt mở lớn, lắc đầu:
– Chúng tôi chỉ mới quen biết.
Lan Như thẳng thừng nói:
– Anh ấy thú nhận vì muốn ngăn tôi yêu anh ấy!
Như Oanh ngạc nhiên trước một thổ lộ quá mức chân thành đến khó tin. Nàng cúi đầu không biết nói gì thêm.
Giọng Lan Như êm đềm:
– Tôi nghĩ anh ấy chọn… đúng người.
Như Oanh trầm giọng:
– Cám ơn chị dành cho lời tốt đẹp. Nhưng thực tế có thể không được như vậy. Chúng tôi chỉ gặp gỡ gần như là thoáng qua. Còn chị, chị sống bên anh bao nhiêu ngày đêm, nơi mà tôi chưa từng được hân hạnh đặt chân lên.
Một nụ cười nhẹ, mơ hồ trên môi Lan Như:
– Đó cũng chính là niềm chua xót cho tôi. Tôi đã từ chối mọi chàng trai ve vãn cho đến khi gặp Võ Bằng. Mỗi ngày một ít, tôi hiểu anh hơn. Và rồi có cảm tình lúc nào không biết.
Như Oanh lặng nghe, lòng xôn xao. Những điều Lan Như kể, nàng đều có thể hình dung. Xét ra, nàng còn tệ hơn, chỉ sau hai lần gặp gỡ ngắn ngủi. Sự việc xem ra rối rắm, mơ hồ. Nàng vẫn thấy trong giọng Lan Như một điều gì chưa thể buông dù đã nghe Võ Bằng thú nhận yêu nàng. Còn với Võ Bằng, biết đâu anh chẳng nghĩ nàng đã có hôn phu mà ngả qua Lan Như. Dù thế nào cũng nên gặp Võ Bằng cho rõ trắng đen. Rồi chia tay không thắc mắc.
Như Oanh hỏi dò:
– Về đây, chắc chị đã có dịp gặp lại anh ấy?
– Chưa. Chưa được gặp.
Nàng hấp tấp hỏi:
– Chưa gặp? Sao chưa gặp? Có phải anh ấy bị thương?
Lan Như xua tay:
– Không. Anh ấy bình an. Tôi nói chưa gặp vì tôi đã tìm nhưng… không thể gặp.
– Sao vậy chị?
– Sáng hôm nay, sau khi báo phát hành, tôi mang xuống tàu tặng anh ấy nhưng họ không cho phép. Họ viện cớ tàu đang được giám định sửa chữa và sau đó vào Hải Quân Công Xưởng. Khu vực cấm dân chính.
Như Oanh vẫn ngờ vực:
– Xin chị kể cho nghe trận hải chiến.
– Tôi đang viết, và cần viết gấp. Muốn biết rõ, chị đón đọc báo ngày mai. Cả báo ngày mốt, kể về trận cuồng phong cũng kinh hồn.
Họ nói chuyện thêm một lúc. Lan Như kể vài chuyện vui trên tàu, về tính cách của những thủy thủ trẻ, về những bữa cơm đạm bạc nhưng đầm ấm như trong gia đình. Như Oanh lắng nghe, như được sống trong không khí ấy, như được gần Võ Bằng hơn.
Nàng nói:
– Chị may mắn hơn tôi, có được những kỷ niệm sâu đậm với Võ Bằng. Còn tôi, rất hời hợt, chưa biết gì nhiều về anh ấy.
Lan Như thấy chút an ủi. Quả là nàng hơn Như Oanh về mặt gần gụi Võ Bằng. Chỉ có nàng là được thấy những gì anh thực hiện, được nghe những lệnh anh ban ra khiến cả một khối sắt cũng biết nghe lời.
Lúc hai thiếu nữ ra khỏi quán, chuẩn bị chia tay, Lan Như nghiêm giọng:
– Hãy tin tôi. Đời Võ Bằng thuộc về biển, nhưng trái tim thuộc về chị. Hãy vui lên. Nay mai chị sẽ gặp mà!
Như Oanh gật đầu, mắt sáng lên. Hai người vòng tay ôm nhau. Bàn tay của phóng viên hơi chai sạn, của cô giáo mềm mại, nhưng cùng truyền cho nhau cảm giác ấm áp lạ thường.
Lan Như hướng về tòa soạn. Như Oanh bước trên lề phố đông người. Lần đầu tiên, từ sau ngày đi dạy, nàng không còn thấy mình đơn độc trong nỗi mong chờ dù chưa biết đến bao giờ…
CHƯƠNG 31
HỢP TAN LÀ LẼ VÔ THƯỜNG
Mười giờ sáng chủ nhật, Như Oanh đang chăm chú chấm luận văn thì chuông cửa reo vang. Thường ngày mẹ nàng mở cửa, nhưng hôm nay ông bà đã đi lễ chùa từ sớm. Nàng gác bút, ngạc nhiên. Ai lại đến vào giờ này. Vinh ư? Không. Nàng không tin người cũ còn trở lại. Có lẽ là khách của ba mẹ.
Nàng vừa xuống cầu thang vừa băn khoăn. Khi cánh cửa hé mở, tim nàng đập thùm thụp. Tay đưa lên bụm miệng, nhưng tiếng vẫn bật ra:
– Anh Bằng!
Nàng mở rộng cửa, giọng run nhẹ:
– Mời anh vào.
Võ Bằng bước qua ngưỡng cửa, mỉm cười:
– Rất vui Như Oanh còn nhớ tên.
Nàng dẫn anh đến phòng khách. Trong lúc đi, anh nhìn bộ pyjama xanh nhạt điểm hoa mai trắng, dáng người thon gọn, mái tóc mềm mại ôm nhẹ bờ vai. Vẫn là nàng, dịu dàng như sóng nước.
Giọng nàng thật êm:
– Anh ngồi đây, cho em xin phép một chút.
Nàng lên lầu.
Võ Bằng ngồi xuống, nhìn quanh. Căn biệt thự hai tầng rộng và tĩnh lặng. Bộ sô-pha da màu ngà. Một cây đàn piano lớn để mở, gỗ nâu sậm nổi vân. Hàng chữ Yamaha ánh vàng vắt ngang bên trên bàn phím đen trắng. Tranh sơn dầu treo dọc tường, toàn là hoa trang nhã. Cuối phòng là chiếc TV màn ảnh rộng, phía dưới là dàn âm thanh hiện đại.
Anh hơi ngỡ ngàng. Không phải vì choáng ngợp, mà vì có cảm tưởng như lạc vào một thế giới khác. Một đời sống khác.
Như Oanh trở xuống, áo dài màu ngà. Môi cười, mắt sáng.
Võ Bằng đứng lên trao món quà mang theo.
Nàng mở ngay: quyển Gone With The Wind và gói trà Đỗ Hữu. Nàng cười, nụ cười rạng rỡ:
– Em vừa xem phim Cuốn Theo Chiều Gió. Đang muốn đọc sách thì được tặng. Cả trà nữa… để đọc suốt đêm. Cám ơn anh.
– Thay vì cám ơn, Như Oanh xem lại phim đó. Cho anh đi cùng.
Nàng nghiêng mặt, mỉm cười:
– Em muốn xem lại.
Nói xong, má nàng ửng hồng, giọng bẽn lẽn:
– Anh dùng bia hay cà phê?
– Tùy Như Oanh. Gì cũng thích.
Như Oanh vào bếp, cố ý pha chậm cà phê và trà. Nàng cần vài phút cho cảm xúc lắng xuống. Khi đặt ly cà phê trước mặt Võ Bằng, nàng mỉm cười:
– Hy vọng hương vị giống quán Sóng. Còn nước dừa… tạm thay bằng trà.
Võ Bằng nghe tim se lại. Tưởng nàng đã quên, không ngờ nàng nhớ đến từng chi tiết.
– Nhận được thư Như Oanh, anh mừng quá nên đến ngay.
– Chị em có nhắn gì không?
– Không. Anh không gặp chị. Từ vùng công tác đi thẳng về đây.
– Vậy sao anh nhận được thư?
Anh mỉm cười, đọc lại đúng câu chữ nàng viết:
– Hy vọng lá thư này tìm đến anh, bất kể anh đang ở nơi nào, giữa biển khơi hay vùng đảo xa xôi.
Nàng làm bộ mặt giận:
– Chọc quê. Không nói chuyện nữa.
– Chị em chuyển tiếp thư qua khu bưu chính. Hai ngày trước, vừa cập cầu là anh nhận được. Muốn đến liền, nhưng còn bận vài việc quan trọng.
– Anh bận sao? Em tưởng về bến là anh được nghỉ ngơi.
– Anh cần giải quyết các “dư âm” của chuyến công tác. Nhất là thăm một sĩ quan và một anh lính bị thương. Hôm nay dành trọn cho em.
Như Oanh thè lưỡi:
– Có bị thương à? Nặng hay nhẹ? Hôm qua, em chỉ mới đọc bài tường trình chuyến hải hành từ An Thới đến Thổ Châu. Hôm nay báo mới đăng trận hải chiến… nhưng chưa có báo.
Võ Bằng uống vài ngụm cà phê, nghĩ tới lời hứa của Lan Như: khi đăng bài sẽ mang báo đến tặng. Anh tin là Lan Như có đến nhưng Hải Quân Công Xưởng không cho vào! Cũng mừng. Gặp chỉ gây phiền cho cả hai. Anh đặt ly xuống, đúng lúc Như Oanh cất giọng nhẹ êm nhưng lại như tiếng còi tàu báo động:
– Hôm qua… em gặp chị Lan Như.
Võ Bằng trân mắt nhìn nàng:
– Gặp Lan Như? Em biết cô ấy?
Nàng bình thản đáp:
– Bài tường thuật cho biết chị ấy đi trên tàu anh.
Võ Bằng thầm kêu khổ. Anh hiểu ngay sự nhạy cảm của khoảnh khắc. Cần tránh một lời không khéo gây hiểu lầm khó gỡ.
Như Oanh tiếp tục:
– Chị ấy dễ thương ghê.
Võ Bằng mỉm cười:
– Anh chỉ thấy cô ấy gan lỳ và chuyên nghiệp.
Nàng nhìn anh, giọng dịu dàng nhưng thẳng thắn:
– Chỉ vậy thôi?
Võ Bằng đáp chậm rãi:
– Anh quý trọng tài năng và tư cách của cô ấy. Điềm tĩnh, lịch lãm, và yêu nghề.
Như Oanh gật đầu:
– Em cũng cảm nhận như vậy.
Một khoảng lặng. Rồi nàng nói rất nhỏ:
– Em tìm chị ấy vì nôn nóng muốn biết tin tức về anh. Khi gặp, em lại muốn biết mình đang đứng ở đâu… trong lòng anh.
Võ Bằng mỉm cười, âu yếm nhìn nàng:
– Em đứng trong đời anh. Trọn đời.
Nàng không cười, chỉ cúi mặt. Khi ngẩng lên, khóe mắt long lanh:
– Khó tin quá. Có một câu vè em mới được nghe: tượng nào cao bằng tượng Trần Hưng Đạo, lính nào xạo bằng lính hải quân.
Võ Bằng vờ thở dài:
– Nhưng câu này không xạo: tưởng rằng mọi cảm xúc đã bế quan tỏa cảng, nào ngờ em đến như một trận cuồng phong.
Oanh nhìn anh, dịu giọng:
– Vậy câu vè là… xạo!
Võ Bằng nâng ly cà phê nhâm nhi. Một lúc, anh nói chậm:
– Em biết không, anh sợ nhất là khi gặp lại, em xem anh như người lạ.
– Em cũng sợ. Sợ anh… thiếu thành thật.
Võ Bằng mỉm cười:
– Từ nhỏ, thành thật đã là đức tính của anh.
Như Oanh lặng thinh. Anh nghiêm nét mặt:
– Để anh chứng tỏ. Trong những ngày xa em, biết anh ao ước điều gì không?
Như Oanh hồi hộp chờ. Anh tiếp:
– Rất thành thật, nghĩ sao nói vậy: ao ước được nắm tay em.
Lời nói như có sức mạnh kéo bàn tay nàng về phía anh. Anh ân cần nắm lấy bàn tay thon thả, mềm mại. Trong khoảnh khắc, mọi mệt nhọc tan biến. Nàng thấy ấm áp, an toàn.
Khi anh buông tay, nàng chợt băn khoăn: nếu anh đòi hỏi một chiếc hôn? Điều đó thì… lạm dụng thành thật. Nàng quyết sẽ từ chối…
Nhưng anh vẫn ngồi yên, mắt nhìn quanh phòng:
– Nhà em đẹp quá.
Như Oanh dè dặt:
– Không phải nhà của em. Em không ham nhà đẹp. Chỉ thích một nơi ấm cúng.
Võ Bằng lặng đi. Rồi nói chậm rãi:
– Anh từng nghĩ đến lập gia đình, nhưng cứ e ngại. Đời anh lấy biển làm nhà, Lúc ở, lúc đi. Chỉ khổ người chờ đợi.
Nàng nhìn sâu vào mắt anh:
– Đức Phật nói đời là bể khổ, trong đó có khổ vì thương mà phải xa. Nhưng bên nhau cũng đâu hẳn hạnh phúc, có khi lại căm ghét nhau như kẻ thù. Cho nên lúc đi, lúc ở… chỉ là lẽ vô thường.
Võ Bằng chăm chú nhìn nàng, tim đập mạnh. Nàng khuyến khích hay chỉ vô tình? Anh tin là khuyến khích nhưng vội vàng tỏ tình lại có thể là biểu lộ thiếu chân thành.
Ngoài cửa sổ, gió lay nhẹ hàng cây. Tiếng còi xe vọng đến mơ hồ, như thuộc về một thế giới khác.
Võ Bằng uống thêm ngụm cà phê. Anh thấy đời anh đi đi, về về. Đi thì lâu mà về thì quá ngắn. Thời gian không nhiều để chần chừ. Không thổ lộ bây giờ thì bao giờ! Anh nghiêm giọng:
– Hôm nay anh đến, như trong thư em nói, là để tiếp tục chuyện tình duyên hải cho đến hồi kết.
Nàng nghiêng mặt, mỉm cười:
– Cho dù kết cuộc có thế nào?
– Hy vọng một kết cuộc có hậu.
Nàng uống vài ngụm trà rồi nói chầm chậm:
– Em hiểu cuộc đời anh gắn liền với biển. Em không khuyên anh rời biển. Em chỉ mong… khi anh trở về, anh biết mình chỉ có một bến đỗ.
Võ Bằng hớn hở, định chính thức mở lời cầu hôn thì cánh cửa bật mở. Không khí ấm áp trong phòng như đóng băng lại.
Ba nàng bước vào trước. Dáng cao, gầy. Áo sơ mi trắng cài nút kín cổ. Gương mặt nghiêm nghị đến lạnh lùng. Mẹ nàng theo sau, dáng người phúc hậu, ánh mắt bình lặng.
Giọng ông vang vang:
– Có khách à?
Như Oanh và Võ Bằng cùng đứng lên. Nàng nhanh nhảu:
– Thưa ba, đây là anh Võ Bằng.
Võ Bằng cúi chào. Ông đưa mắt soi xét bộ đồ dân sự giản dị của anh, không đưa tay bắt:
– Mời Hạm trưởng ngồi.
Như Oanh nghe lạnh người.
Ông bà ngồi đối diện, cùng ngắm nghía Võ Bằng. Một lúc ông lên tiếng, giọng khô khốc:
– Cậu quê quán ở đâu?
– Dạ, Tân An.
– Long An?
– Thưa không. Tân An Châu Đốc.
– Ba má làm gì?
Võ Bằng nhìn thẳng, không né ánh mắt sắc bén của ông:
– Dạ, ba cháu làm công chức, còn má cháu buôn bán tạp hóa.
Căn phòng im phăng phắc, như thu hẹp lại. Mẹ nàng rót thêm trà:
– Bán tạp hóa thì vất vả mà thu nhập có được bao nhiêu.
Võ Bằng dè dặt đáp:
– Dạ.
Ba nàng tiếp tục hỏi:
– Cả thảy mấy anh chị em?
– Dạ, một anh, một chị, đều đã có gia đình.
– Còn cậu?
– Dạ chưa.
– Làm hạm trưởng thì thiếu gì cô để ý!
– Thưa bác, thực tế… ngược lại.
– Tôi có rể cũng hải quân. Cấp bậc cao hơn cậu.
– Dạ, cháu biết. Cao hơn nhiều.
Không khí không phải thăm hỏi. Đó là cuộc thẩm định. Anh mong kết quả tốt đẹp.
Ông nhấp trà, rồi đặt tách xuống tạo thành tiếng khua lớn:
– Tôi nêu sự việc có phần quá sớm nhưng sớm còn hơn muộn. Tôi giả sử cậu làm quen con gái tôi với ý định tốt. Nhưng…
Ông lại nâng tách trà nhấp vài hớp:
– Khi gả con gái đầu lòng cho hải quân, chúng tôi dứt khoát không muốn chuyện ấy tái diễn cho con gái út. Hải quân nay bến này mai bến nọ, muốn đi thăm là cả vấn đề. Lại thêm đời sống không được sung túc.
Võ Bằng cúi đầu, lặng thinh. Ông tiếp:
– Như Oanh lớn lên trong môi trường hoàn toàn khác với gia đình cậu.
Mẹ nàng tiếp lời, giọng nhỏ nhẹ:
– Không phải chúng tôi chê bai gì cậu. Chỉ sợ con mình… không quen với lối sống không thuộc về nó.
Như Oanh tái mặt, kêu khẽ:
– Mẹ…
Bà giơ tay ngăn lại:
– Thà mất lòng trước…
Như Oanh lại kêu lên tha thiết:
– Mẹ…
Bà làm lơ, quay sang Võ Bằng:
– Tôi nói vậy, chắc đủ để cậu hiểu.
Anh nhủ lòng giữ bình tĩnh. Nhưng trả lời thế nào đây?
Ba Như Oanh lạnh lùng tiếp:
– Tốt hơn hết, mọi chuyện nên dừng lại.
Như Oanh ngẩn ngơ quay sang Võ Bằng. Anh nhìn nàng, mỉm cười trấn an. Anh thấy nên rút lui như một thiện chí rồi tìm cách tiến tới. Anh đứng lên, giọng chững chạc, chậm rãi:
– Thưa hai bác, hôm nay cháu đến trong tư cách một người bạn mới quen Như Oanh. Cháu không nghĩ việc đó là thất lễ với hai bác.
Ông gật đầu:
– Cậu không sai. Và tôi cũng chỉ nói nên dừng lại, không có gì nặng lời.
Như Oanh đứng lên, giọng nghẹn lại:
– Ba mẹ sao nỡ…
Ba nàng nghiêm khắc chặn lời:
– Hiểu cho ba mẹ. Cậu ấy đàng hoàng, nhưng không phải là người đi cùng con suốt đời.
Như Oanh cắn môi:
– Nhưng đó là đời con, như đời của chị con.
Ông bỏ vào phòng đọc sách. Mẹ nàng ôm nàng:
– Chỉ vì ba mẹ thương con.
Nàng gỡ tay mẹ:
– Để con đưa anh Bằng ra cửa.
Mẹ nàng nhìn theo, lắc đầu thở dài.
Ngoài ngưỡng cửa, anh ngoái lại vẫy tay. Nàng nói rất khẽ trước khi khép cửa:
– Năm giờ chiều mai. Đợi em ở cổng trường.
CHƯƠNG 32
HỒN VẪN MƠ HOÀI
Đúng ba giờ, Võ Bằng rời tàu, gọi taxi, nói địa chỉ về căn nhà ở Phú Nhuận. Bầu trời Sài Gòn về chiều bớt oi ả. Bước xuống xe, ánh mắt anh chạm phải cảnh tượng quen thuộc mà mỗi lần trông thấy, lòng lại chùng xuống: những chậu hoa trên bao lơn đã héo khô, những cánh hồng nhung rũ xuống buồn thảm. Dù giữ giùm chìa khóa nhà, bà hàng xóm vẫn chỉ giữ nhà chứ không giữ hoa.
Anh gõ cửa nhà bà. Cửa mở, khuôn mặt nhăn nheo bỗng bừng sáng:
– Dữ hôn! Lần đầu mới thấy cậu về sớm thế này.
Bà đưa chìa khóa. Anh rối rít cám ơn, rồi lấy từ xách tay một chai nước mắm Phú Quốc đặc biệt tặng làm quà. Bà cười, nếp nhăn quanh đuôi mắt tỏ vẻ hài lòng.
Anh mở cửa nhà mình. Hơi nóng hầm hập ùa ra nhưng không mang mùi ẩm mốc như những lần trước. Có lẽ nhờ anh vắng mặt không lâu. Mọi thứ vẫn y nguyên như ngày Tuyết ra đi năm năm trước. Từ chiếc gối tựa trên ghế sofa, đến những bức tranh cảnh biển Nha Trang trên vách. Tất cả im lìm như buồn phiền bị bỏ quên.
Anh lên lầu, nằm vật ra giường, để hơi thở xóa tan những ngày sóng gió. Một tiếng sau, anh bước vào phòng tắm, dòng nước mát lạnh xối lên người gột đi cơn uể oải thiếu ngủ. Anh lau người, đứng trước tủ quần áo. Anh chọn chiếc quần tây màu sô-cô-la và áo sơ mi kẻ xanh lạt mà anh đoán sẽ hợp với bộ đồ của Như Oanh hay ít nhất cũng đúng ý nàng: không chải chuốt, không cầu kỳ.
Anh đẩy chiếc Vespa ra đường. Chiếc xe cũ kỹ, mua lại từ người bạn từng cùng tàu, khó nhọc nổ máy sau vài lần đạp cần. Tiếng máy bình bịch vang lên trong con hẻm nhỏ. Anh hướng về trường Gia Long với một cảm giác bồi hồi khác lạ, như khi con tàu không định hướng tìm thấy hải đăng.
Anh đến đúng giờ, dựng xe bên kia đường, mắt dán vào cổng trường. Các áo dài trắng ùa ra như những cánh bướm, rồi bay xa. Đúng năm giờ mười lăm, bóng dáng Như Oanh xuất hiện. Nàng bước ra, ánh mắt tìm kiếm rồi bắt gặp anh. Một nụ cười nở trên môi, tươi như đóa hoa hồng. Nàng băng qua đường, dáng uyển chuyển trong tà áo dài màu thiên thanh.
Thấy nàng lúng túng, anh chỉ nàng cách ngồi:
– Em ngồi một bên, vòng tay qua ngực anh. Như vậy vững hơn.
Hơi ấm từ vòng tay e ấp của nàng lan qua lớp vải áo. Chiếc xe chao đảo nhẹ rồi từ từ tiến. Gió chiều lất phất tóc nàng.
Anh ngoái lại:
– Em muốn đi đâu?
Giọng nàng nhỏ nhẹ, gần như chìm vào tiếng ồn:
– Ra ngoại ô, đến một nơi nào đó yên tĩnh.
Anh gật đầu, hướng về phía Phú Lâm. Như Oanh khẽ tựa má vào lưng anh. Tiếng máy xe đều đều hòa với nhịp tim của nàng. Nàng nghĩ đến phim Roman Holiday. Nàng công chúa Audrey Hepburn trốn khỏi cung điện gặp chàng ký giả nghèo Gregory Peck. Chàng chở nàng trên chiếc Vespa chạy quanh phố, đi khiêu vũ… Mối tình của họ thật đẹp…
Ra đến quốc lộ 4, chiếc xe rẽ vào một con đường nhỏ, hai bên là những luống hoa đồng nội đủ sắc màu mùa đông: cúc vàng, trạng nguyên, hướng dương, hoa hồng… Bên kia đường là một khu vườn rau thơm xanh mướt: húng quế, tía tô, kinh giới, ngò gai. Một làn hương thơm mộc mạc, dịu nhẹ thoảng qua.
“Đồng Quê Quán” hiện ra như một bức tranh thủy mặc. Đó là một ngôi nhà rộng, sàn và vách bằng gỗ, bao quanh là một vành tròn toàn hoa sen trắng, hồng, chen nhau nở rộ.
Chủ quán, một người đàn ông trung niên phúc hậu, niềm nở dẫn họ tới chiếc bàn nhỏ sát lan can. Ánh nắng chiều chuyển sắc trên hồ sen: từ màu cam rực rỡ sang xanh biếc rồi tím nhạt. Quán đã khá đông khách, nhưng không khí vẫn tĩnh lặng. Chỉ có tiếng thì thầm trò chuyện và những giai điệu nhạc xưa êm ái vẳng đưa.
Vừa an vị, Như Oanh nhìn quanh rồi đưa mắt về phía anh, ánh mắt tò mò lấp lánh:
– Anh chọn đúng chỗ em thích. Mà sao anh biết quán này?
– Đi ngang qua nhiều lần, trên đường về thăm ba mẹ anh.
– Em không đoán được quê anh ở đâu. Chỉ biết… giọng anh không phải người Trung, cũng không phải Bắc.
Võ Bằng khẽ cười:
– Em đoán đúng. Anh người miền Nam.
Nàng làm mặt bất bình:
– Vô duyên!
Anh cười:
– Quê Châu Đốc.
Nàng dịu dàng nói:
– Em nghe danh nhiều mà chưa từng đến. Ở trường, có vài giáo sư cũng quê Châu Đốc. Họ đều hiền… như anh.
Người bồi bàn mang bản thực đơn đến. Nàng cầm lấy rồi để lên bàn. Anh nói:
– Em chọn đi. Cho hợp khẩu vị.
Như Oanh cúi xuống, mái tóc dài đen mượt buông xuống, che một phần gò má trắng ngần. Nàng ngẩng lên, tia nhìn ấm áp:
– Không, anh chọn. Anh biết ở đây món nào ngon mà!
Câu nói nhẹ nhưng mang ý dò xét tinh tế. Võ Bằng cười thầm, lắc đầu:
– Anh cũng mới đến lần đầu.
Anh quay sang người bồi:
– Món gì trứ danh của quán?
– Dạ, nếu hai người dùng cơm gia đình, ở đây nổi tiếng canh chua cá lóc, cá kho tộ, tôm nướng, rau muống luộc chấm mắm nêm.
Như Oanh hào hứng xen vào:
– Canh chua cá lóc nấu với bông điên điển. Tôi mê món này.
– Dạ, xin cáo lỗi, bông điên điển vừa hết mùa. Canh chua với bạc hà, me và đậu bắp, ngon không thua.
– Ồ, tiếc quá. Thôi, cũng được.
– Quý khách dùng thức uống gì ạ?
Võ Bằng đáp:
– Một lon Budweiser, một ly nước dừa.
Khi người bồi đi khuất, một giai điệu quen thuộc vang lên. Như Oanh khẽ reo:
– Ôi! Bài hát này… Ca sĩ này… Chủ quán như đọc được ý thích của em.
Võ Bằng gật đầu, ánh mắt ấm áp:
– Hương Xưa, Duy Trác. Anh cũng thích bài này.
Giọng nàng chợt trầm ấm:
– Em thích nhất hai câu này: “Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một kiếp xa xôi. Ôi, những đêm dài hồn vẫn mơ hoài một giấc ai mơ.”
Nàng dừng lại, đổi giọng âu yếm:
– Mỗi lần nghe, em lại nghĩ… đến anh.
Họ cùng lặng im lắng nghe. Trong khoảnh khắc ấy, tiếng nhạc như một nhịp cầu vô hình, kết nối hai tâm hồn cô đơn. Khi bản nhạc kết thúc, Như Oanh nhìn anh chăm chú. Khuôn mặt với những đường nét góc cạnh, không điển trai nhưng toát lên vẻ cương nghị, đáng tin cậy. Chiếc cằm vuông vức như nói lên tính cách kiên định. Trong giây phút ấy, anh mang dáng hình Đại tá Lương Đình Thám, người mà chị nàng từng kiên trì thương yêu bất chấp can ngăn của cha mẹ, và đã bên nhau năm năm hạnh phúc. Nàng bỗng muốn giơ tay lên, xoa gò má rám nắng của Võ Bằng, nhưng hai má chợt nóng bừng ngăn cản.
Thức uống được mang ra. Tiếng “xèo” nhẹ khi anh mở lon bia xóa tan bầu không khí ngập cảm xúc. Anh nhẹ giọng:
– Dạy học ra sao, em?
Nàng đáp, chút do dự:
– Êm xuôi. Nhưng em vẫn muốn xin chuyển đi nơi khác…
– Tại sao?
Nàng vừa lỡ lời, đôi mắt thoáng nét khó xử. Đâu cần phải kể việc Vinh chạy chọt giúp nàng dạy trường Gia Long.
Nàng nhìn mặt trời còn nằm trên cánh đồng, nói một câu bất chợt hiện ra:
– Gió đồng nội thơm và mát quá. Nhờ có anh, em mới biết đến một nơi bình yên thế này. Lòng em thấy vô cùng thanh thản.
Võ Bằng cười nhẹ, nói đùa:
– Vậy là anh có chút công lao với em rồi.
Tiếng cười trong trẻo của nàng khẽ vang lên, như một làn suối mát chảy qua tâm hồn anh. Nàng bình thản hỏi:
– Vậy anh muốn em trả công thế nào?
Anh hỏi ngược lại, giọng trầm ấm:
– Em muốn trả thế nào?
Nàng không đáp, chỉ nghiêng đầu, ánh mắt đắm chìm vào mặt hồ sen, nơi những tia nắng cuối ngày đang đùa giỡn trên những chiếc lá. Ý nghĩ chợt lóe lên khiến tim nàng đập nhanh hơn: “Không lẽ lại nói thẳng ra rằng em muốn được làm vợ anh? Không… không thể. Tự anh phải biết”.
Võ Bằng xoay xoay lon bia trong tay, mắt vô tình nhìn lên những chai rượu đủ màu trên các kệ ở quầy. Hình ảnh quầy rượu “Hollywood Snackbar” ở đường Tự Do hiện về, với cô chủ quán người Việt tên Mỹ Linda. Rồi hình ảnh Tuyết, mối tình đầu, ùa đến. Năm năm rồi, nàng không một lần trở lại. Giờ chắc con đùm con đề nơi quê người…
Anh quay lại, say đắm ngắm khuôn mặt tuyệt vời của Như Oanh. Một cảm xúc ấm áp trào dâng. “Quá khứ đã là quá khứ. Hãy dành trọn tình cho Như Oanh”. Anh tự nhủ. Nàng đã can đảm vượt qua lệnh cấm của gia đình để đến với anh. Đó không phải là bồng bột. Đó là niềm tin nàng đặt vào anh.
Nàng cũng đang ngắm anh, nói nhỏ:
– Trông anh gầy hơn ngày em gặp.
– Còn em thì đẹp thêm nhiều.
Nàng cười, e thẹn:
– Đừng có nịnh!
Thức ăn được bưng ra, mang theo một hương thơm quyến rũ. Tô canh chua bốc khói nghi ngút, nước trong veo lộ rõ những miếng cá lóc trắng ngần, tô điểm với sắc đỏ của ớt, sắc xanh của đậu bắp và bạc hà. Đĩa cá kho tộ vàng ươm, thơm lừng.
Võ Bằng gắp cho nàng miếng cá ngon nhất. Như Oanh nếm thử, đôi mắt khép hờ, nở nụ cười hạnh phúc. Nàng nhận xét, giọng đầy thích thú:
– Vị ngọt thanh từ nước dừa, vị mặn đậm đà từ nước mắm, thơm nồng từ tiêu và tỏi. Tất cả hòa quyện thật hoàn hảo.
Họ ăn trong im lặng một lúc, hương vị món ăn như xóa tan mọi khoảng cách. Rồi câu chuyện tự nhiên quay về chủ đề chính của cuộc gặp này.
Như Oanh lên tiếng, giọng trầm xuống:
– Anh biết không, đêm qua em buồn quá, thức trắng. Em nhớ lại bộ phim A Time to Love and a Time to Die xem mấy tháng trước. Câu chuyện tình lãng mạn mà kết thúc buồn đến nao lòng. Anh có xem phim đó không?
– Có xem thời còn đi học, chỉ thấy buồn, chứ không muốn khóc. Bây giờ, sau bao trận chiến, nghĩ lại, thời chiến mà. Khoác áo lính là chấp nhận cái chết…
Nàng cắt ngang, giọng nghẹn ngào:
– Nhưng… người ở lại thì sao?
Anh cười buồn:
– Lấy chồng lính, đồng nghĩa với chấp nhận.
Nàng ngập ngừng:
– Nếu… nếu em chấp nhận số phận ấy, cùng anh…”
Võ Bằng đặt đũa xuống, nhai chậm miếng cơm cuối cùng. Uống nửa lon bia, anh nói chậm rãi, nghiêm túc:
– Đêm qua, anh cũng thao thức gần như suốt đêm. Vấn đề quan trọng không phải từ anh, mà từ em. Em phải xét thật kỹ lòng mình.
Nàng nói, giọng kiên định:
– Em đã xét kỹ rồi. Em yêu anh.
Nàng cúi mặt, đổi giọng băn khoăn:
– Chỉ còn một điều thắc mắc. Anh… Anh thật sự chưa … có vợ?
Anh lắc đầu:
– Nói chưa, em cũng khó lòng tin. Anh sẽ chứng minh bằng thực tế. Khi nào ba mẹ em đồng ý, anh sẽ đưa em thăm ba mẹ nuôi của anh ở Sài Gòn, rồi về Châu Đốc ra mắt ba mẹ ruột.
Như Oanh thở dài, vẻ lo lắng hiện rõ:
– Thật sự, em không biết làm thế nào cho ba mẹ em bằng lòng. Hồi đó, chị em cũng trầy da tróc vẩy…
– Thì cứ làm giống như chị em.
Nàng lắc đầu, vẻ bất lực:
– Hồi đó chị em dọa tự tử. Nhưng chị là tình đầu. Còn em, em đã từng bốn năm với Vinh. Dọa tự tử thì chắc cũng chỉ nhận được câu nói: cho đáng đời!
Chàng suy tư rồi gợi ý:
– Theo anh nhận xét, ba em nghiêm khắc, nhưng mẹ em thì tình cảm hơn. Thử cách này xem sao. Em vẫn giữ lễ phép như mọi ngày, nhưng tỏ ra buồn rầu, đôi khi bỏ ăn, ít nói và xa lánh. Cần nhất, chỉ trả lời khi được hỏi. Anh tin, trong vòng một hai tuần, mẹ em chắc chắn sẽ để ý và hỏi han, an ủi em. Lúc đó, em hãy khóc. Hãy năn nỉ, giãi bày với mẹ. Chắc chắn là mẹ sẽ mủi lòng, sẽ năn nỉ ba em…
Nàng mỉm cười, gật đầu:
– Anh nói như chuyên gia tư vấn tình cảm. Cách đó… hay đấy. Để em thử.
Ngẫm nghĩ một lúc, nàng lại nói:
– Nhưng nếu… ba mẹ đều phớt lờ… thì sao?
– Thì em cứ tiếp tục… thi gan.
Nàng buồn bã lắc đầu:
– Anh biết không, sau khi nhượng bộ cho chị em lấy hải quân, ông hay than phiền với mẹ: “Tôi đã bảo bà, gả cho hải quân là nó đi biền biệt”. Chắc chắn ông sẽ… rút kinh nghiệm.
Giọng anh trầm xuống:
– Thật ra, anh bày kế mà cũng không tin ăn chắc. Chỉ biết một điều: nếu không thử, thì càng ăn chắc mất em!
Giọng nàng như muốn khóc:
– Mà thử cho đến bao giờ?
– Hãy đặt niềm tin vào thành công. Dù sóng gió thế nào, chúng ta sẽ cùng vượt qua.
Nàng buồn rầu:
– Chẳng lẽ như chị em, kiên trì tranh đấu đến hai năm?
Giọng anh quyết đoán:
– Không. Phải gấp rút. Anh cũng đã hai mươi bảy, già rồi. Cho nên thời hạn thử tối đa là một tháng. Sau một tháng, anh sẽ trực tiếp đến gặp ba mẹ em. Anh sẽ ca bài… con cá sống nhờ nước!
Như Oanh bật cười, khuôn mặt bừng sáng:
– Nghe được đấy!
– Trong khi chờ đợi, chiều chiều mình ra quán này ăn cơm.
Nàng cười, cắt ngang:
– Không được đâu. Ba mẹ sẽ… giết em!
Anh nắm tay nàng, khích lệ:
– Em lớn rồi, đã là giáo sư rồi, không còn là công chúa nhỏ bị nhốt trong tháp ngà. Hãy cho ba mẹ thấy em cần có cuộc sống độc lập. Và tập cho ông bà quen dần với việc… ít thấy em ở nhà.
Nàng bất chợt nhìn đồng hồ, giật mình:
– Trời, trễ quá rồi! Đã tám giờ. Em phải về gấp.
Thấy nàng hốt hoảng, anh biết là khó rứt nàng ra khỏi nỗi sợ quen thuộc. Phải cần thời gian:
– Ừ, thì về. Nhưng ngày mai, mấy giờ gặp?
– Đúng sau một tuần. Tức năm giờ chiều thứ hai tuần tới, trước cổng trường.
Anh kêu khẽ, giọng đau khổ:
– Một tuần? Anh sẽ chết vì nhớ em.
– Không nên chọc ba giận. Hơn nữa, em cũng không muốn nói dối mãi. Như hôm nay, em phải nói là đi chơi phố với Ngọc Lan.
Anh cố vớt vát:
– Vậy thì… chiều mốt?
– Không. Cần nhũn nhặn để ba em… cảm thông.
Họ cùng cười, tiếng cười xóa tan chút căng thẳng. Anh gọi tính tiền, rồi hai người rời quán trong ánh đèn vàng hắt ra từ những chiếc đèn lồng màu.
Trên đường về, Như Oanh miên man nghĩ đến kế hoạch của Võ Bằng. Ít nhất nó chứng minh được tình yêu anh dành cho nàng. Không chỉ là lời nói, mà bằng hành động cụ thể và ý thức trách nhiệm. Nàng tin, rốt cuộc mình sẽ được hạnh phúc như chị.
Võ Bằng dừng xe ngay trước nhà. Nàng xuống xe, bóp nhẹ cánh tay anh, rồi bước nhanh trên lối đi, băng qua chiếc Renault, lên các bậc tam cấp. Khi đứng trên thềm nhà, nàng quay lại. Anh còn đứng đó nhìn theo. Nàng vẫy tay, nghe lòng bình yên. Nàng đã tìm được người như ý và một kế hoạch khả thi.
Võ Bằng ngồi lên xe, rồ ga. Chiếc Vespa vọt đi, mang theo một niềm vui sâu đậm. Sau nhiều năm, anh biết mình đang yêu và được yêu…
CHƯƠNG 33
THÁCH CƯỚI
Một tuần sau ngày yêu cầu Võ Bằng chấm dứt liên lạc với Như Oanh, ông bà Huỳnh Quang Đạo bắt đầu thấy căn biệt thự chìm vào bầu không khí lạnh lẽo. Như Oanh vẫn đều đặn đến trường dạy học nhưng khi về đến nhà nàng ẩn mình trong phòng riêng. Nụ cười tươi tắn thường ngày biến mất, thay vào đó là vẻ mặt trầm tư, u buồn.
Nàng vẫn chào hỏi lễ phép, ăn cơm chung nhưng không còn quẩn quanh trong bếp cùng mẹ như trước. Nàng gần như câm nín, không còn ríu rít kể về bạn bè, về lớp học, về những bài văn hay của học trò. Sự vắng bóng của những âm thanh ấy khiến phòng ăn rộng thêm ra, lạnh thêm đi.
Có hôm lại bỏ cơm, cáo lỗi rằng mệt. Như hôm nay, bà Đạo mang cháo lên tận phòng, thấy con gái nằm co quắp quay mặt vào tường. Bà ngồi xuống giường, đặt tay nhẹ lên vai con:
– Con ăn chút đi, kẻo hại sức.
Như Oanh chỉ lắc đầu, giọng khàn đặc:
– Con không đói, mẹ ạ. Cám ơn mẹ.
Hai ông bà quen hình ảnh cô con gái như điểm sáng lung linh, như niềm vui bất tận trong ngôi nhà, nhất là sau khi chị nàng lấy chồng. Sự vắng lặng này khiến ông khó chịu, như một bản nhạc ưa thích bỗng tắt đi giai điệu nhịp nhàng. Tất nhiên hai ông bà đều để ý và biết lý do thay đổi thái độ của con gái. Nhưng đều tin thời gian sẽ làm nàng nguôi ngoai.
Một tuần nữa trôi qua. Căn biệt thự trở nên lạnh lẽo hơn khi vắng đi tiếng đàn piano nàng thường chơi mỗi chiều, vắng đi mùi bánh ngọt thơm lừng mỗi khi nàng trổ tài làm bánh. Sự im lặng của Như Oanh như trở thành lời than thở, trách móc. Nó như dòng nước chảy âm ỉ đủ làm xói mòn niềm tin của ông bà.
Một buổi tối, thấy con ngồi đọc sách ở salon, ông bà ngồi xuống bên nàng. Bà cất giọng có phần gượng gạo:
– Dạo này con có chuyện gì buồn ở trường mà trông ủ rũ quá vậy?
Nàng im lặng thật lâu. Rồi nước mắt trào ra, không kìm được. Nàng không thốt lên tiếng nức nở, chỉ khóc trong im lặng, nhưng chính sự im lặng ấy lại càng làm cho ông bà thấy nỗi khổ đau tột cùng của con.
Giọng nàng run rẩy:
– Con… con không thiết sống nữa.
Bà giật mình kéo con vào lòng, vuốt tóc, giọng âu yếm:
– Con đừng nói vậy. Nhưng con ạ, đời người dài lắm, đừng vì một chút tình cảm nhất thời mà…
Nàng òa khóc, nức nở, bật tiếng:
– Không phải nhất thời!
Bà ôm siết con, vỗ về:
– Ba con không có ác ý. Ông ấy chỉ lo lắng cho tương lai của con thôi.
Ông Đạo nhìn cảnh tượng ấy, khuôn mặt lạnh lùng của ông dịu đi. Ông đứng dậy, bước đến bên cửa sổ, nhìn ra màn đêm Sài Gòn với những ánh đèn vàng. Trong lòng ông, một cuộc chiến âm thầm diễn ra. Hình ảnh đứa con gái đầu lòng, hình ảnh người con rể đại tá, hình ảnh chàng đại úy Hải quân, hình ảnh đứa con út cưng chiều… Tất cả ẩn hiện, lúc tỏ lúc mờ.
Ông quay lại, giọng trầm hẳn xuống, nhưng vẫn giữ vẻ uy nghiêm:
– Như Oanh, ba luôn muốn điều tốt nhất cho con. Có lẽ… có lẽ lần này ba đã sai. Có lẽ ba mẹ quá ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình mà quên mất con thực sự muốn gì.
Như Oanh ngẩng mặt lên, đôi mắt đẫm nước mắt mở to, tia hy vọng mong manh lóe như ánh lửa tàn. Tim nàng đập thình thịch. Phải chăng bức tường thành kiên cố đang rạn nứt?
Ông Đạo thở một hơi dài, như buông bỏ một gánh nặng:
– Theo ba mẹ biết, con đem lòng thương yêu Võ Bằng chỉ sau gặp gỡ vài lần. Mẹ con nói đúng: tình cảm nhất thời. Ba mẹ gặp Võ Bằng còn ít hơn. Hãy cho ba mẹ thêm thời gian tìm hiểu thằng rể tương lai. Nếu xét thấy nó xứng đáng, ba mẹ không còn cấm cản.
Như Oanh chăm chăm nhìn ông, không hy vọng có tia sáng cuối đường hầm. Nàng nhớ chị nàng đã phải làm mình làm mẩy cả năm trời, rồi phải qua cả năm cho ông bà tìm hiểu. Sao bỗng dưng với nàng ông đổi ý nhanh quá! Nàng còn băn khoăn thì ông tiếp:
– Con hãy mời Võ Bằng đến nhà cho ba mẹ hỏi chuyện.
Bốn từ “mời Võ Bằng đến nhà” vang lên trong căn phòng yên tĩnh, như đoạn mở đầu êm ái của bản nhạc tình. Niềm vui bất ngờ khiến giọng nàng nghẹn ngào:
– Con cám ơn ba mẹ.
***
Cùng thời gian đó, Võ Bằng cũng trải qua những ngày dài bồn chồn, lo lắng, dù công việc cần làm cũng đã chiếm nhiều thì giờ. Anh xin phép nghỉ vài ngày về thăm ba mẹ nuôi và ba mẹ ruột. Món quà anh mang về – hai chai rượu XO cho hai ba, hai chai nước mắm Phú Quốc cho hai mẹ được hân hoan tiếp nhận. Rồi tiếp theo là những nụ cười rạng rỡ khi nghe tin anh được thăng chức hạm trưởng, Nhưng sau những lời chúc mừng, là những câu hỏi khiến anh day dứt:
– Bao giờ thì có cháu bồng hả con? Làm hạm trưởng rồi, phải lo lập gia đình đi chứ?
Mỗi lần nghe là mỗi lần nhớ Như Oanh da diết. Rồi nhớ đến gương mặt buồn bã của nàng trong lần gặp cuối, đến vở kịch nàng đang đóng vai chính. Liệu nó có đủ sức thuyết phục ba mẹ nàng hay không? Nỗi lo ấy cứ bám riết lấy anh, ngay cả trong giấc ngủ.
Khi trở về Sài Gòn, việc chiến hạm vào nằm ụ sửa chữa không đòi hỏi hạm trưởng thường xuyên hiện diện khiến Võ Bằng thấy ngày càng dài hơn.
Rồi cũng đến chiều thứ bảy. Gặp Như Oanh, anh vừa mừng vừa lo. Nàng báo tin ba mẹ nàng cần gặp anh gấp. Kế hoạch của anh đã có kết quả nhưng không rõ sẽ về đâu! Nhưng triệu hồi đến gặp, đồng nghĩa nhiều hy vọng.
Chín giờ sáng chủ nhật, Như Oanh là người mở cửa khi anh nhận chuông. Chiếc áo dài màu tím càng tô thêm vẻ u buồn trên gương mặt nàng. Nàng thoáng ngạc nhiên lần đầu thấy Võ Bằng trong bộ quân phục.
Thật ra, anh đã định mặc thường phục, nhưng nghĩ lại, mặc quân phục trông tề chỉnh hơn, tỏ rõ một Võ Bằng trọn vẹn hơn. Đây là con người thật của anh – một sĩ quan Hải quân. Tuy nhiên khi nhớ đến khuôn mặt sắt lạnh của ông Đạo, tim anh đập mạnh. Đối diện với ông như đối diện một cuộc chiến. Nhưng là một cuộc chiến không dùng súng đạn mà dùng lời lẽ để giành lấy hạnh phúc. Đó là trận địa anh chưa từng trải qua…
Sau khi nhận bó hoa hồng, nàng đưa anh đến bộ salon nơi ba mẹ nàng chờ sẵn.
Khi anh cúi chào, bà Đạo tỏ vui tươi nhưng ông Đạo vẫn vẻ mặt lạnh lùng buông lời khách sáo:
– Mời đại úy hạm trưởng ngồi.
Anh ngồi xuống chiếc ghế đơn, gần đó là Như Oanh. Tim nàng đập loạn nhịp như đánh lô tô. Ông Đạo nhìn thẳng vào bộ quân phục, giọng điềm tĩnh:
– Trông cậu khác hẳn lần trước. Bộ quân phục gợi tôi nhớ đến thằng rể đại tá…
Câu nói như một quả đạn pháo đầu tiên bắn thăm dò. Võ Bằng cảm nhận rõ ý đồ so sánh và hạ thấp. Anh giữ vững tư thế, đáp lại bằng giọng điềm tĩnh và tôn trọng:
– Thưa bác, Đại tá Thám là bậc đàn anh đáng kính, trước cháu sáu khóa.
Bà Đạo lên tiếng, giọng dịu dàng:
– Dù là cấp bậc cao, nhưng công việc vẫn là đối mặt với biển cả mênh mông, sóng gió bất trắc. Là cha mẹ, ngày nào chúng tôi cũng không khỏi lo lắng…
Võ Bằng gật đầu, lấy thế chủ động:
– Thưa hai bác, cháu xin thất lễ để trình bày thẳng thắn suy nghĩ của cháu. Người ta thường nói sống chết có số. Sự an nguy của một người không hoàn toàn phụ thuộc vào nghề nghiệp. Ở đâu cũng có những cái chết bất ngờ. Trong thành phố vẫn có những tai nạn, dịch bệnh… Cháu quan niệm: điều quan trọng không phải là tránh né mọi hiểm nguy, mà là sống thật trọn vẹn với lựa chọn của mình.
Anh hít một hơi thật sâu, hướng sang Như Oanh. Nàng đang nhìn anh chăm chú, đôi mắt như nguyện cầu. Sức mạnh từ ánh mắt ấy truyền sang anh. Không thể chần chừ thêm nữa. Anh quay lại, nhìn thẳng vào mắt ông Đạo, giọng nói trang trọng, chậm rãi và đầy xúc động:
– Thưa hai bác, cháu hiểu hôm nay có thể vẫn còn quá sớm. Nhưng thời gian của một người lính biển chúng cháu thường không được dài và đầy đủ. Cháu đã suy xét rất kỹ lòng mình. Tình cảm cháu dành cho Như Oanh là chân thật và nồng đậm. Vì vậy, cháu mạn phép được trân trọng ngỏ lời: xin hai bác cho phép cháu được cưới Như Oanh. Lấy tư cách một sĩ quan Hải quân, cháu hứa sẽ chăm sóc, bảo vệ và thương yêu Như Oanh suốt đời.
Một khoảng lặng nặng nề bao trùm căn phòng. Tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ quả lắc trên tường bỗng trở nên vang dội. Ông Đạo không ngờ chàng trai trẻ lại trực ngôn và dũng cảm đến vậy. Gặp lần đầu, bị đuổi khỏi nhà. Gặp lần hai, lại đặt thẳng vấn đề hôn nhân, điều mà ngay cả người con rể đại tá trước kia cũng phải qua hai năm mới dám đề cập.
Ông Đạo nghiêm mặt lại, giọng lạnh như tiền:
– Cậu có phần bộp chộp. Chúng tôi hầu như chưa biết cậu là ai, và cậu cũng chưa thể hiểu cuộc sống của con gái chúng tôi. Nhưng cậu đã nói thẳng, tôi cũng nói thẳng.
Ông ngừng lại, như cố tình để Võ Bằng thấm thía lời ông:
– Như Oanh được nuôi dưỡng để trở thành một quý cô, có một cuộc sống an bình, đầy đủ và thanh lịch.
Võ Bằng cảm thấy máu dồn lên mặt, nhưng cố kìm nén, giữ giọng điệu lễ độ:
– Thưa bác, chúng cháu thương yêu nhau, không quan tâm giàu nghèo, sang hèn. Người xưa có câu: yêu nhau mấy núi cũng trèo, mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua. Cháu quan niệm, hạnh phúc thật sự không nằm ở biệt thự rộng hay trương mục dày, mà nằm ở sự chân thành, thấu hiểu và gắn bó giữa hai tâm hồn.
Ông Đạo lắc đầu, vẻ khó chịu lộ rõ:
– Sự lãng mạn ấy chỉ dành cho tuổi trẻ chưa va chạm cuộc đời. Đại úy phải hiểu: Hôn nhân không chỉ là hai người, mà là dựng xây một gia đình. Phải nghĩ đến con cái, đến tương lai của chúng. Đứa trẻ sẽ lớn lên ra sao khi người cha thường xuyên vắng nhà, thậm chí… có ngày không trở về?
Giọng ông chùng xuống:
– Chúng tôi có hai đứa con gái. Một đứa đã lấy chồng lính. Tôi nghĩ thế là đủ. Đứa thứ hai phải được sống một cuộc đời bình yên, được hưởng những gì nó xứng đáng.
Võ Bằng cảm thấy mồ hôi lạnh thấm trên sống lưng. Những lý lẽ của ông Đạo quá thực tế, đánh trúng vào những điểm yếu lớn nhất của anh. Anh nắm chặt hai bàn tay như để nâng cao tinh thần. Anh từ tốn nói:
– Thưa hai bác, cháu biết mình không có địa vị cao và một tài sản lớn. Nhưng cháu có nghị lực xây dựng cuộc sống tốt đẹp. Và cháu biết chắc Như Oanh cũng mang nghị lực mạnh mẽ của hai bác…
Ông nhìn con gái nước mắt rưng rưng ngồi bất động. Ông dịu giọng, lời nhẹ nhàng hơn:
– Như Oanh là con cưng của chúng tôi. Nó mỏng manh như cánh hoa. Tôi không tin nó có thể chịu đựng được sự nhọc nhằn khi một mình chăm lo cho con cái cũng như gánh vác gia đình trong những tháng ngày dài cậu không có nhà.
Như Oanh đứng bật dậy, đôi mắt đỏ hoe, giọng cương quyết:
– Thưa ba mẹ, con có thể! Con đã nghĩ rất nhiều về tương lai, về những khó khăn. Con biết là con vượt qua được hết. Cũng như chị con đã vượt qua được hết. Chính cuộc sống của con thiếu anh ấy mới không thể chịu đựng.
Nước mắt nàng tuôn trào. Bà Đạo vội kéo con gái ngồi xuống, ôm vào lòng. Lòng bà cũng rối bời.
Ông Đạo nhìn con gái khóc, nhìn vợ đau lòng, và nhìn chàng trai trẻ đang ngồi thẳng lưng dù bị dồn vào thế khó. Ông công nhận anh ăn nói khảng khái, quyết đoán. Anh không hề nao núng, không hề xin xỏ, đầy bản lĩnh. Nhưng tất cả vẫn chưa đủ.
Ông thong thả nói, như một người thầy giảng giải:
– Bao giờ bậc mẹ cha cũng muốn điều tốt đẹp nhất cho con mình. Chừng nào cậu có con, cậu mới hiểu hết được lòng cha mẹ. Không có gì vui hơn thấy con mình có cuộc sống sang giàu.
Võ Bằng hơi cúi đầu, tỏ sự tôn trọng tình phụ tử, nhưng giọng nói vẫn vững vàng:
– Thưa bác, cháu tin rằng điều tốt đẹp nhất của đời người, chính là được sống trọn vẹn với người mình yêu.
Ông Đạo nhếch môi, một nụ cười lạt:
– Đó chỉ là sáo ngữ. Tình cảm ban đầu có thể nồng nàn, nhưng ai dám đảm bảo nó sẽ không phai nhạt theo năm tháng? Cậu có dám đoan chắc rằng, mười năm, hai mươi năm nữa, cậu vẫn yêu con gái tôi như bây giờ? Và con bé có chắc sẽ không hối hận vì đã chọn cuộc sống bấp bênh với cậu?
Những câu hỏi như búa tạ giáng xuống. Võ Bằng biết mình không thể đưa ra lời thề suông. Như Oanh không im tiếng được nữa, nàng kêu khẽ:
– Ba. Con xin ba….
Cuộc đối thoại đi vào bế tắc. Ông Đạo nhận ra, dùng lý lẽ thuần túy khó có thể khuất phục được ý chí sắt đá của hai trái tim trẻ. Ông thấy không còn cách nào hơn là dùng đến phương thức cuối cùng ông nghĩ đến tuần rồi: vừa có thể khiến Võ Bằng tự rút lui, và quan trọng nhất, không để con gái oán hận mình.
Ông từ từ đặt tách trà xuống, hai tay chắp lại đặt lên đùi, tư thế của một vị thẩm phán sắp tuyên án. Giọng ông đột ngột trở nên ôn hòa:
– Được rồi. Vì tình yêu tha thiết của con gái tôi dành cho cậu, và vì sự chân thành mà tôi nhìn thấy ở cậu hôm nay… tôi đồng ý cho hai đứa kết hôn.
Mọi người sửng sốt, ngỡ ngàng. Như Oanh nín thở, mắt mở to không tin. Bà Đạo nhìn chồng đầy nghi hoặc. Ngay cả Võ Bằng cũng cảm thấy tim mình đập sai nhịp. Nhưng bản năng của người lính mách bảo anh, đằng sau sự thuận tình đột ngột ấy, ắt phải kèm điều kiện.
Và quả thực, ông Đạo mỉm cười, một nụ cười đầy thách thức:
– Tuy nhiên, Như Oanh là con cưng của chúng tôi. Chúng tôi muốn đám cưới của nó phải thật đặc biệt, xứng tầm và… linh đình hơn cả đám cưới của chị nó.
Ánh mắt ông chuyển sang Võ Bằng, sắc lạnh trở lại:
– Vì vậy, tôi đặt ra ba điều kiện. Thứ nhất: Buổi sáng, phải có một lễ cưới đầy đủ theo gia lễ truyền thống, tổ chức tại tư gia của chúng tôi ở Sài Gòn này.
Điều này hợp lý và trong tầm với. Võ Bằng gật đầu:
– Xin bác điều thứ hai.
– Thứ hai: Buổi tối, phải có một tiệc cưới theo nghi thức hải quân, tổ chức tại Câu Lạc Bộ Hải Quân, để chứng tỏ danh phận và chức vụ của chú rể.
Võ Bằng không thấy khó khăn. Một năm ở Trung tâm Hành quân, anh có dịp quen biết các nơi liên hệ, sẽ nhờ giúp nghi thức lễ cưới và ban nhạc. Chàng đáp:
– Thưa bác, cháu sẽ chuẩn bị kỹ lưỡng theo đúng nghi thức.
Ông Đạo hít sâu, giọng nói nặng trịch:
– Và điều kiện cuối cùng: Buổi tiệc cưới Hải Quân đó… phải được chính Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân đích thân chủ hôn.
Điều kiện cuối cùng vừa buông ra như một quả bom nổ. Không khí trong phòng đông cứng lại. Tâm não Võ Bằng cũng đông cứng. Anh hiểu ý đồ của ông Đạo. Đời nào anh mời được vị tư lệnh Hải quân, một nhân vật cấp tướng, đứng ra chủ hôn cho đám cưới của một sĩ quan trung cấp, dù là hạm trưởng. Đó là chuyện gần như không tưởng. Đây không còn là điều kiện nữa, mà là một thách thức bất khả thi, một cách từ chối khéo léo và tàn nhẫn.
Như Oanh mặt trắng bệch, nàng hiểu ngay ba mình đang làm gì. Nàng muốn kêu lên, nhưng cổ họng nghẹn đắng. Nàng nhìn sang Võ Bằng, trong mắt là nỗi tuyệt vọng và áy náy.
Võ Bằng ngồi đó, đầu óc trống rỗng trong giây lát. Sáu tiếng “Đô Đốc Tư Lệnh Hải Quân” vang vọng trong tai anh. Anh càng biết rõ hơn, cấp trên trực tiếp của anh là Chỉ huy trưởng Hải Đội, cao hơn là Tư Lệnh Hạm Đội, rồi mới đến Tư Lệnh Hải Quân. Khoảng cách giữa anh và vị Tư lệnh ấy là một hố sâu về cấp bậc và địa vị. Mời được ông Tư lệnh Hạm Đội đã khó, làm sao chạm tới Tư lệnh Hải Quân. Lại còn đòi hỏi phải đứng chủ hôn? Rõ ràng một nhiệm vụ bất khả thi.
Anh ngẩng lên. Đôi mắt đẫm lệ đầy lo lắng của Như Oanh. Ánh nhìn thách thức và chờ đợi sự đầu hàng của ông Đạo. Một làn sóng quyết tâm cuồn cuộn trong lòng anh. Không. Không được lùi bước. Đây là cửa ải cuối cùng dẫn đến Như Oanh, dù chỉ có một phần vạn cơ hội, cũng phải thử.
Võ Bằng từ từ đứng dậy. Bộ quân phục xanh trên người anh như đại dương tỏa ra hào quang của hy vọng. Anh đứng thẳng, vai ngang, tư thế của một biệt kích sẵn sàng nhận nhiệm vụ bất khả thi. Giọng anh trầm ấm, chậm rãi, rõ ràng từng chữ, vang lên trong căn phòng tĩnh lặng:
– Thưa hai bác, hai bác đã đưa ra một thách thức… nằm ngoài tầm với của một sĩ quan trung cấp như cháu. Nhưng nhờ khích lệ được hai bác cho phép cưới Như Oanh, cháu không còn chọn lựa nào khác hơn là… liều mạng xin gặp Tư lệnh.
Lời nói của Võ Bằng như một tiếng sét giữa trời quang. Ông Đạo hoàn toàn kinh ngạc. Ông đã dự tính là anh sẽ bối rối, sẽ từ chối, hoặc ít nhất là van xin bỏ điều kiện cuối cùng. Nhưng không, chàng trai này lại mạnh dạn chấp nhận thử thách. Trong giây phút, ông không khỏi dấy lên một cảm giác e ngại. Ông ngờ rằng ông đã đánh giá thấp chàng trai này. Không chừng… chính ông đang tự đào hố cho mình.
Như Oanh nhìn Võ Bằng, nước mắt lại ứa ra, nhưng lần này là vì cảm động và tự hào. Trái tim nàng tràn ngập một niềm tin mới. Niềm tin chắc chắn được mãi mãi bên anh.
Ông Đạo đành nói buông xuôi:
– Chúc cậu thành công.
Võ Bằng nghiêm trang cúi chào ông bà Đạo. Rồi anh nhìn sang Như Oanh, mỉm cười. Một nụ cười đầy an ủi và hứa hẹn. Anh quay người, bước những bước chậm rãi rời phòng khách.
Như Oanh đứng dậy, tiễn anh ra cổng. Dưới tán cây phượng, họ đứng đối diện nhau. Anh nắm lấy đôi bàn tay lạnh ngắt của nàng:
– Con đường tương lai của chúng ta đã hé mở. Anh hy vọng không bao lâu, chúng mình cùng bước vào.
Nàng siết chặt tay anh, trái tim không còn mang nỗi tuyệt vọng. Họ âu yếm nhìn nhau, ánh mắt trao nhau tất cả niềm tin và sức mạnh.
CHƯƠNG 34
VƯỢT QUA SÓNG GIÓ
Đêm qua, Võ Bằng trằn trọc. Điều kiện của ông Huỳnh Quang Đạo không chỉ là một lời thách cưới. Nó như một cơn cuồng phong ập xuống, quật ngã tất cả những dự định anh đã âm thầm xây dựng. Ánh mắt nghi ngờ của ông, giọng nói lạnh và tỉnh, nụ cười buồn của Như Oanh… cứ xoay vòng trong tâm trí anh như những đợt sóng không dứt.
Phải gặp ngay Tư lệnh, không thể chần chừ. Được hay không dứt khoát sớm cho khỏe.
Anh mở tủ, chọn bộ quân phục đẹp nhất, đôi giày đen bóng lộn. Anh gắn cặp lon vào cầu vai; bảng tên, hàng huy chương, huy hiệu hạm trưởng được đặt trên hai túi áo.
Anh ngắm nghía mình trong gương và thấy hài lòng. Tư lệnh rất để ý đến quân phục các cấp, cần gây cảm tình ngay phút đầu. Anh chậm rãi vuốt lại từng nếp gấp trên quân phục, ngắm mình trong gương. Gương mặt hơi căng cứng, đôi mắt thoáng chút bất an. Anh hít một hơi thật sâu, tự nhủ: “Bình tĩnh, Võ Bằng, còn nước còn tát.”
***
Tòa nhà Bộ Tư lệnh Hải Quân cao sáu tầng, lúc nào cũng mang vẻ uy nghi. Cổng có bảng màu nước biển mang hai mỏ neo gác chéo nằm trên hàng chữ lớn “Trại Bạch Đằng” cùng màu trắng. Anh từng phục vụ ở đây một năm, mới xa một tháng mà khi trở lại, vẫn cảm thấy lòng se thắt.
Mới tháng trước, Tư lệnh gọi anh đến giao nhiệm vụ. Lần này anh tự đến xin đặc ân.
Phòng chờ yên tĩnh. Một trung úy tùy viên đứng lên chào hỏi:
– Đại úy có hẹn trước?
– Không, tôi cần gặp Tư lệnh có việc riêng, bất ngờ.
Trung úy tùy viên nhấc điện thoại. Sau vài phút trao đổi qua máy, người tùy viên nói:
– Đại úy lên lầu gặp Trung tá Chánh văn phòng.
Vẫn khuôn mặt gặp lần trước, vẫn ánh mắt thân thiện sau cặp kính, vẫn chiếc bàn đầy hồ sơ. Võ Bằng chào kính:
– Thưa Trung tá, tôi xin được gặp Tư lệnh.
Ông đứng dậy, gõ cửa. Vào trong ít phút rồi trở ra:
– Tư lệnh thuận tiếp.
Võ Bằng bước vào, chào đúng quân cách. Đô đốc ngồi sau bàn lớn, nhìn anh bằng ánh mắt điềm nhiên của người đã quen với những cuộc gặp bất ngờ. Ông đưa tay, Võ Bằng hơi khom mình, bắt lấy. Ông mỉm cười:
– Ngồi đi.
Anh ngồi thẳng, để nón trên gối.
Ông vui vẻ tiếp:
– Rất vui gặp lại anh. Mỗi ngày tôi vẫn theo dõi hoạt động của Rạch Gầm. Tích cực và hiệu quả. Anh không phụ lòng kỳ vọng của tôi. Thành thật ngợi khen. Các huy chương đã được Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận. Khi tàu sửa chữa xong, Hạm Đội sẽ tổ chức một lễ gắn.
Ông nhồi thuốc Half and Half vào ống vố, bật lửa, hút một hơi dài rồi từ từ nhả khói. Ông sảng khoái tiếp:
– Tôi cũng đang theo dõi loạt bài phóng sự chiến trường vùng biển Tây Nam Phú Quốc của Lan Như. Các bài viết rất hấp dẫn. Nhờ đó mà Hải Quân được thêm tiếng tăm. Anh có đọc chứ?
– Dạ chưa!
– Phải đọc. Phóng sự về hải hành, hải đảo, hải chiến, cuồng phong của Rạch Gầm mà Hạm trưởng Rạch Gầm lại bỏ qua. Tệ quá. Xuống Phòng Tâm Lý Chiến lấy báo đọc đi! Tôi cũng đã chỉ thị điện thoại về tòa soạn cám ơn cô ấy.
Võ Bằng thấy vui nhưng vẫn nặng lòng. Anh nói xuôi:
– Thưa Đô đốc, tàu mới về, bận rộn nhiều việc. Tôi sẽ đọc.
Tư lệnh đổi giọng thân tình:
– Cô phóng viên còn khoe là được thủy thủ đoàn đối đãi ân cần. Riêng Hạm trưởng có… quá ân cần không?
– Thưa không.
– Báo có đăng hình cô phóng viên và hình hạm trưởng Rạch Gầm. Cô phóng viên xinh đẹp thế mà hạm trưởng độc thân không cảm mến, cũng lạ!
– Thưa, đó là lý do hôm nay tôi xin gặp Đô đốc.
Đô đốc hất hàm:
– Nào! Chuyện gì?
– Thưa Đô đốc, một việc cá nhân…
– Nói.
– Thưa, tôi dự định cưới vợ…
Tư lệnh mỉm cười, khuyến khích:
– Tốt. Anh cần gì?
Võ Bằng ngập ngừng, khoảnh khắc còn khó hơn ra lệnh tác xạ:
– Thưa Đô đốc, ông già vợ tương lai ra điều kiện quá khó: hôn lễ phải theo nghi thức Hải Quân … và người chủ hôn phải là Tư lệnh Hải Quân.
Đô đốc nhíu mày:
– Cái kiểu ra điều kiện cho thấy ông ấy đâu có muốn gả con cho anh.
– Thưa chính vì vậy, tôi mới đến cầu xin Đô đốc giúp đỡ.
Giọng ông nặng nề:
– Anh có thấy người ta lợi dụng tôi để thắng một canh bạc tình cảm?
Câu hỏi như tiếng súng bắn gần:
– Thưa Đô đốc… quả là vậy. Nhưng tôi không còn cách nào khác.
– Nếu tôi từ chối?
– Thưa, Đô đốc biết kết quả mà! Thì đành đổ thừa cho số mạng!
– Anh có cho rằng tôi là người gieo số mạng?
– Thưa, tôi không dám nghĩ vậy.
Đô đốc nhìn anh thật lâu:
– Tôi thông cảm anh, ai thông cảm tôi? Hãy tưởng tượng, nếu tôi nhận lời anh, từ nay, các sĩ quan đều mời tôi dự cưới. Thì giờ đâu tôi nhận hết! Nếu nhận người này, từ chối người kia, tôi mang tiếng thiên vị…
– Thưa chính Đô đốc dự đám cưới Đại tá Thám.
– Tôi dự với tư cách bà con chớ không phải tư cách hải quân.
Võ Bằng lặng người, hết đường thuyết phục. Anh thấy lưng ghế lạnh đi, tay bấu nhẹ vào cạnh bàn. Như vậy có nghĩa Như Oanh sẽ mãi rời khỏi đời anh, như Hiền, như Hồng, như Tuyết. Anh có cảm tưởng cả bầu trời sụp đổ. Chỉ một lời từ chối, và tình yêu của anh chìm nghỉm nơi đáy biển.
Đô đốc đứng dậy, bước đến cửa sổ. Lá cờ vàng ba sọc đỏ phần phật trước gió. Một chiến hạm lặng lờ hướng ra khơi. Một đôi nhân tình thong dong ngang qua hai ổ súng thần công dưới chân kỳ đài. Ông chợt nhớ về thuở trai trẻ, cũng từng liều vì tình yêu. Cũng từng bị thử thách.
Ông quay lại, nói lớn:
– Cả hai còn trẻ mà. Rồi mỗi người lại tìm thấy người khác.
– Nếu dễ dàng như vậy… tôi đã không mong cầu ở Đô đốc.
Im lặng rất lâu. Cuối cùng, Đô đốc trở về ghế ngồi:
– Tôi không hứa gì hôm nay. Nhưng tôi cho anh một cơ hội. Trước tiên, hãy làm đúng thủ tục xin cưới vợ. Qua điều tra an ninh, nếu kết quả tốt… anh trở lại gặp tôi.
Ánh mắt ông sắc bén:
– Anh từng suýt để mất tàu vì một cô gái. Hy vọng lần này anh… may mắn hơn.
Võ Bằng đứng dậy chào:
– Xin đa tạ Đô đốc.
Khi bước ra khỏi Bộ Tư Lệnh, anh thấy lá cờ bay thư thả như cảm thông niềm hy vọng mong manh của anh. Tuy không thắng, nhưng cũng chưa thua.
***
Hai tháng không trôi êm. Đó là hai tháng của những đêm lo âu, mất ngủ. Chiến hạm đã sửa chữa xong, đã ra ụ, chờ lệnh công tác. Khi được báo hồ sơ điều tra an ninh kết quả tốt đẹp, không bỏ mất phút giây, anh đến ngay nhà ba mẹ Như Oanh.
Cửa mở, bà Huỳnh Quang Đạo nhìn anh, ánh mắt pha chút ngạc nhiên:
– Cậu lại đến?
Không chút bối rối, ngại ngùng, Võ Bằng lễ phép đáp:
– Thưa bác, cháu xin được gặp hai bác.
Bà Đạo mở rộng cửa:
– Vào nhà đi.
Ông Đạo từ thư phòng bước ra. Ánh mắt vẫn sắc:
– Có việc gì?
– Thưa… cháu đến báo tin.
– Tin gì?
– Cháu đã gặp Tư lệnh Hải quân.
Ông Đạo khựng lại:
– Ông ấy tiếp cậu?
– Dạ.
– Rồi sao?
Võ Bằng hân hoan nhìn ông rồi bà:
– Tư lệnh đã nhận lời đứng chủ hôn.
Cả ba ngồi vào bộ salon. Căn biệt thự lặng ngắt như tờ. Ông Đạo sững người. Bà Đạo vào trong pha trà. Thời gian cứ trôi cho tới khi bà trở ra rót trà vào tách. Ông Đạo run tay nâng tách trà lên miệng, vừa thổi vừa uống. Mắt ông mở to, nhìn Võ Bằng như thể không tin nổi. Một thoáng thất thế hiện lên trên gương mặt vốn luôn lạnh lùng. Sau phút im lặng nặng nề. Ông Đạo đặt tách trà xuống, lắc đầu:
– Tôi không tin.
– Chuyện hệ trọng, cháu đâu dám nói dối.
Ông nghiêm giọng:
– Cậu nghĩ, chỉ vì Tư lệnh hứa làm chủ hôn mà cậu thành rể nhà này?
– Thưa, chính bác nói vậy.
Không khí đông đặc. Ông Đạo chuyển hướng:
– Cưới rồi, anh cho vợ ở đâu? Mướn nhà à?
Như Oanh nghe tiếng ồn, đi xuống lầu. Nàng ngồi ghế cạnh Võ Bằng. Anh nhìn nàng, rồi nói nhỏ nhẹ với ông Đạo:
– Dạ, cháu có nhà.
Tia nhìn của ông như muốn đốt cháy Võ Bằng:
– Thật không đó? Gia đình không dư dả, cậu thì lương lính…
Võ Bằng ngập ngừng. Anh chưa từng nói dối. Mà nói thật thì mất vợ:
– Thưa… nhà do hải quân cấp.
Câu nói thốt ra, anh thấy mặt mình nóng lên. Hải quân không cấp nhà cho sĩ quan độc thân. Hy vọng ông không hỏi lại con rể Đại tá Thám.
Giọng ông Đạo lạnh lùng:
– Dù vậy, tôi vẫn không muốn gả con cho cậu.
Như Oanh ngẩng cao đầu, đôi mắt sáng rực nhìn thẳng vào cha:
– Ba. Ba đã thách, anh ấy đã nhận, và Tư lệnh Hải Quân đã nhận lời…
Ông Đạo chòng chọc nhìn con:
– Con ngồi yên. Đừng chen vào.
– Nhưng con là người sống với kết quả.
Ông to tiếng:
– Nhưng ba không nhận kết quả đó.
Nàng siết chặt tay, kềm giọng bình thường:
– Nếu ba không giữ lời, con sẽ không bao giờ lấy chồng nữa.
Võ Bằng quyết liệt:
– Thưa bác, nếu hủy hôn nhân, danh dự của hai bác không còn nguyên vẹn. Một là với người con rể. Hai là với Tư lệnh Hải Quân.
– Có ăn nhằm gì với con rể của tôi?
– Thưa có, ông Tư lệnh từng dự đám cưới trưởng nữ của hai bác.
Ông Đạo ngạc nhiên:
– Do đâu cậu biết Tư Lệnh Hải Quân có dự đám cưới?
– Thưa bác, do chính
Tư lệnh nói. Ông ấy coi hồ sơ xin cưới vợ của cháu, thấy người cháu cưới là em vợ Đại tá Lương Đình Thám, vì vậy ông miễn cưỡng nhận lời.
Ông Đạo nghe lòng chùng lại. Ván bài do ông giăng ra, giờ khép lại chính ông. Ông cứ tưởng Tư lệnh Hải Quân không đời nào dự đám cưới sĩ quan trung cấp, nhất là đứng chủ hôn. Đúng là… tận số. Ông thở dài, giọng trầm hẳn xuống:
– Thôi được. Coi như cậu đáp ứng các điều kiện. Nhưng còn vài yêu cầu cần phải tuân theo.
Anh vội nói:
– Dạ, cháu xin nghe.
– Sau sáu tháng mới có lễ hỏi. Sau một năm mới có lễ cưới.
Võ Bằng không kềm được ý nghĩ:
– Thưa bác, một năm… lâu quá!
Ông nghiêm giọng:
– Hôn nhân không chỉ là ngày cưới. Sáu tháng để thử lòng, để hiểu nhau. Một năm là để tránh tiếng đời dị nghị. Với thằng rể Lương Đình Thám hay thằng rể hụt Tạ Quang Vinh cũng vậy.
Võ Bằng nhìn Như Oanh. Nàng nhìn anh, không biểu lộ ý kiến. Anh nói:
– Thưa hai bác, cháu đã khá lớn tuổi, lại thêm thường công tác lâu ngày, xin bác rút ngắn thời hạn…
Ông Đạo nhìn bà. Bà gật đầu. Ông nói:
– Thôi được. Chúng tôi đồng ý giảm một nửa. Nghĩa là sau ba tháng làm đám hỏi, sau sáu tháng đám cưới.
– Dạ, cháu sẽ theo đúng.
– Yêu cầu thứ hai, chúng tôi bắt rể. Nghĩa là cậu và vợ cậu phải ở đây với chúng tôi.
Võ Bằng mừng thầm. Tưởng gì chớ điều kiện này… vượt mong ước của anh:
– Dạ, cháu sẽ tuân lời.
Ông đứng dậy, đưa tay:
– Chúc mừng cậu.
Võ Bằng đứng lên cúi đầu, cung kính. Hai bàn tay siết nhau.
– Xin cảm tạ hai bác.
Như Oanh chắp tay:
– Con cám ơn ba mẹ.
Võ Bằng trịnh trọng thưa:
– Thưa hai bác, con kính mời hai bác dùng bữa cơm trưa.
Ông Đạo lắc đầu:
– Trưa tôi bận. Cám ơn.
– Vậy xin hai bác vào buổi tối.
Bà Đạo xua tay:
– Cám ơn nhiều. Để bữa khác.
– Vậy xin phép hai bác cho cháu mời Như Oanh.
Bà Đạo mỉm cười:
– Cháu hỏi nó.
Võ Bằng và Như Oanh bước ra cổng. Nàng nói khẽ:
– Anh tài thật. Em gần đứng tim.
Anh âu yếm nhìn nàng:
– Thật ra, do em đóng kịch quá hay.
Hai người lên Vespa. Tiếng máy nổ giòn và nhỏ dần.
Bên trong nhà, bà Đạo khẽ nói:
– Ông à, tôi thấy thằng đó cũng tốt.
Ông Đạo âu yếm nhìn bà. Ông nhớ lại tuổi trẻ của mình. Cũng từng có những tháng ngày long đong với bên nhà vợ. Ông nắm tay bà:
– Ừ. Cũng tốt… như tui vậy. Nhưng đừng quên. Nó với thằng Vinh gắn bó nhau bốn năm còn đổ vỡ, huống hồ hai đứa này chỉ vài tháng quen nhau…
CHƯƠNG 35
ĐÊM BIỂN BẮC
Rạch Gầm rời bến Sài Gòn lúc tám giờ sáng ngày mồng Bảy Tết năm Canh Tuất – ngày 12 tháng 2 năm 1970. Võ Bằng não lòng nhưng an ủi là trong những ngày Tết vừa qua, anh và Như Oanh được bên nhau trọn vẹn.
Đúng bốn mươi tám giờ sau khi khởi hành, con tàu cập cầu Căn cứ Hải quân Tiên Sa, Đà Nẵng, mang theo mối tình nồng nàn của người hạm trưởng vừa lên hai mươi tám tuổi. Như Oanh đã muốn tổ chức sinh nhật sớm nhưng anh không đồng ý. Nàng đành tặng vài chiếc hôn môi…
Võ Bằng trình diện Tư lệnh Hải quân Vùng 1 và nhận được quyết định: từ ngày mai, Rạch Gầm tạm thời biệt phái cho Sở Phòng Vệ Duyên Hải.
Chỉ nghe tên gọi, anh đã thấy một nỗi e dè lạ lùng len lỏi tâm hồn. Cái cảm giác ấy đến từ bốn năm trước, năm 1966, khi tình cờ đọc được một văn thư của Sở này kêu gọi hải quân các cấp tình nguyện gia nhập hai lực lượng mới thành lập: Biệt Hải và Hải Tuần.
Với Lực lượng Biệt Hải, những dòng chữ trên trang giấy ngày ấy vẫn còn in đậm trong trí nhớ: thể chất cường tráng; tinh thần can đảm; phản ứng bén nhạy trong mọi tình huống. Rồi phải qua hai mươi bốn tuần huấn luyện như một điệp viên chiến tranh: nhảy dù, nhảy trực thăng; sử dụng mọi loại vũ khí, mọi loại chất nổ của ta và địch; chịu đựng những khắc nghiệt của độ nóng, độ lạnh, độ sâu và độ cao. Võ Bằng đọc xong, thấy rõ là mình không hội đủ điều kiện gia nhập Biệt Hải.
Còn với Lực lượng Hải Tuần, điều kiện thật dễ dàng, chỉ cần là quân nhân Hải quân. Nhiều người đã hăng hái gia nhập lực lượng này. Anh đã định ghi danh nhưng khi dò hỏi về nhiệm vụ, anh đành rút lui.
Vậy mà giờ đây, số phận đưa đẩy anh đến thẳng với Sở Phòng Vệ. Công tác ra sao chưa rõ, nhưng xem ra lành ít dữ nhiều. Để chuẩn bị tinh thần, Võ Bằng dành trọn ngày ngủ bù cho suốt hai ngày đêm đã vất vả hải hành ngược sóng mùa gió chướng.
Đúng tám giờ sáng hôm sau, Võ Bằng có mặt ở phòng họp kín của Sở Phòng Vệ Duyên Hải. Căn phòng nhỏ đầy người, rèm che kín cửa sổ, chỉ có ánh đèn neon trắng nhợt chiếu lên từng khuôn mặt đang chuyện trò râm ran. Võ Bằng chào kính các vị đàn anh. Hai người bạn cùng khóa mừng rỡ ôm lấy Võ Bằng.
Anh ngồi vào ghế, nhìn quanh. Tấm bản đồ tác chiến chiếm trọn một vách tường. Vĩ tuyến 17 được kẻ bằng một vạch đỏ đậm, chạy dọc theo dòng sông Bến Hải đến cửa Tùng, rồi tiếp tục cắt ngang vùng biển, chia lãnh hải đất nước thành hai miền. Nhìn vào vết cắt đỏ chói, Võ Bằng bỗng nghĩ đến một vết thương lâu ngày không lành trên thân thể quê hương.
Trên vách bên kia là sơ đồ tổ chức Sở Phòng Vệ Duyên Hải. Bên dưới các khung ghi Phòng Nhân Viên, Tình Báo, Hành Quân, Tiếp Liệu là hai khung lớn: Lực lượng Hải Tuần và Lực lượng Biệt Hải.
Hải quân Đại tá Trịnh Văn Gia, Chánh Sở Phòng Vệ Duyên Hải, bước vào. Đôi mắt ông sáng quắc, nhanh chóng quét một vòng căn phòng. Không khí đặc quánh, nặng như chì, phảng phất mùi thuốc lá và mồ hôi lẫn vào nhau.
Ông chào mừng và giới thiệu một số nhân vật trách nhiệm:
– Người chỉ huy công tác hôm nay: Hải quân Trung tá Tôn Thất Đạt, chỉ huy trưởng Hải Tuần.
Vị sĩ quan có cấp bậc cao thứ nhì đứng lên. Thân hình ông tráng kiện, khuôn mặt khắc khổ, nước da rám nắng gió biển khơi. Võ Bằng nghe tên khá quen qua những câu chuyện ở hạm đội, nhưng đây là lần đầu gặp mặt. Hơn anh năm khóa, ông xứng đáng nhận được sự kính nể.
Đại tá Gia giới thiệu những người kế tiếp, gồm Hải Quân Thiếu tá Đinh Quang Thân, Chỉ huy trưởng Biệt Hải cùng hai Trung úy trưởng toán. Các Hạm trưởng HQ817, HQ818 và HQ266 mà rất tình cờ, cả ba đều là bạn cùng khóa.
Đại tá Gia cao giọng:
– Như thường lệ, chúng ta tiếp tục… vượt biên. Cũng như thường lệ, nhiệm vụ của hai khinh tốc đỉnh là đổ bộ Biệt Hải và rải truyền đơn. Riêng ba chiến hạm, sau khi đổ bộ, tiếp tục di chuyển ba hải lý dọc theo bờ hướng về thành phố Vinh, cho đến giờ trở lại đón hai toán Biệt Hải.
Võ Bằng ngồi nghe, bất giác nhếch môi tỏ nụ cười chua chát. Số mệnh chăng? Lệnh công tác của Hạm đội ghi rõ Rạch Gầm được biệt phái cho Vùng 1 để tuần tiễu bảo vệ an ninh hải phận Vùng 1. Nhưng Vùng 1 lại đẩy anh… vượt Vùng 1, để đâm đầu vào hai đơn vị anh cố tránh. Một vòng lắt léo của chiến tranh.
Đại tá Gia nhìn thẳng vào Võ Bằng:
– Thành tích của Rạch Gầm ở vùng Phú Quốc qua tường thuật trên báo chí là lý do chiến hạm có mặt trong chuyến công tác đặc biệt này. Hy vọng nhờ khẩu 76,2 ly với tầm bắn hiệu quả 15 cây số, Rạch Gầm sẽ làm tắt tiếng các khẩu đại bác của địch và đánh chìm vài chiếc Kronstadt.
Ông uống vài ngụm cà phê, tiếp lời:
– Sau khi vượt qua vĩ tuyến 17, tức là qua cửa Tùng sông Bến Hải, các chiến hạm đi cách xa Hòn Cọp để tránh bị phát giác, cho đến ngang thành phố Đồng Hới thì đâm vào bờ, đổ bộ hai toán Biệt Hải. Hai toán Biệt Hải đi hai hướng, triệt hạ các đài radar, phá hủy các ổ pháo phòng không-phòng duyên, phá hoại cầu đường và thu thập tin tức
Ông dừng lại cho mọi người nhận hiểu rồi tiếp:
– Sau đó ba chiến hạm hải hành cách bờ ba hải lý, cho đến thành phố Vinh. Trong lúc di chuyển, khi bị pháo kích từ bờ, Rạch Gầm toàn quyền phản pháo.
Ông lại nhìn từng người, giọng trầm xuống:
– Hãy dự phòng chạm súng với các tàu tuần của Bắc cộng. Các tàu này có hỏa lực tương đối mạnh, vận tốc nhanh. Lại còn phải trông chừng các phản lực cơ MIG 21. Trong trường hợp xảy ra hải chiến hay tai nạn, các chiến hạm phải tương trợ lẫn nhau. Nghĩa là bằng mọi giá, không được phép bỏ rơi đồng bạn. Các anh đều biết, bị cộng sản bắt thì coi như… từ chết tới bị thương. Nếu phải bỏ tàu, chiếc tàu phải được phá hủy đến không còn tàn tích.
Đại úy Graham, cố vấn của Võ Bằng, hít một hơi sâu, cất tiếng hỏi bằng tiếng Mỹ:
– Thưa Trung tá Jones, tôi có được phép đi cùng với chiến hạm?
Trung tá Cố vấn trưởng ngồi bên tay trái Đại tá Gia gật đầu, trả lời bằng giọng tiếng Anh trầm trầm:
– Phải đi. Anh ghi các tọa độ ổ súng của địch bắn ra tàu để Hàng Không Mẫu Hạm cho phi pháo tiêu diệt, dọn đường cho phản lực cơ vào sâu nội địa giội bom.
Võ Bằng nhíu mày:
– Nhưng Đại tá vừa nói hải pháo 76,2 ly của Rạch Gầm có toàn quyền tác xạ các ổ súng duyên phòng, đâu cần thêm phi pháo?
Đại tá Gia mỉm cười, nụ cười của người đã từng trải:
– Rạch Gầm sử dụng 76,2 ly hiệu quả, nhưng với tầm xa ba hải lý, rất có thể trượt mục tiêu hoặc chỉ gây hư hại. Phải có phi pháo để bảo đảm.
Võ Bằng nghe ớn lạnh sống lưng. Thả Biệt Hải, rải truyền đơn trên đất địch đã là một nhiệm vụ bất an, giờ lại thêm việc đem chiến hạm làm mồi nhử để khám phá các ổ súng của địch – thì khác nào giỡn với tử thần. Anh nhìn về phía tấm bản đồ, nhìn dọc từ Đồng Hới đến Vinh dài hàng trăm cây số mà mồ hôi tay rịn ướt thành ghế.
Ngay sau buổi họp, Rạch Gầm lặng lẽ rời bến. Chỉ còn tiếng ì ầm dưới hầm máy và tiếng sóng vỗ vào mạn tàu thay lời tiễn đưa. Hai khinh tốc đỉnh lầm lũi theo sau, mũi tàu chẻ sóng tạo thành những cánh bướm trắng xóa. Các nhân viên trực phiên căng mắt nhìn về vùng biển phía bắc, nơi những điều chưa biết đang chờ.
Trên đài chỉ huy của Rạch Gầm, Trung tá Đạt đứng bên cạnh Võ Bằng, bình thản hỏi chuyện đời thường – về sinh hoạt ở thủ đô Sài Gòn, về những quán cà phê nhạc, về vũ trường Mỹ Phụng thơ mộng bến Bạch Đằng. Ông đã quá quen với những chuyến ra Bắc, với cảm giác chai lỳ trên ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Trong khi đó, Võ Bằng trả lời với nét mặt đượm vẻ ưu tư vì công tác phía trước, và thỉnh thoảng, ánh mắt xa xăm hướng về Như Oanh.
Bảy giờ tối, ba chiến hạm ngang qua cửa Tùng của sông Bến Hải. Không khí trên tàu bỗng trở nên căng thẳng như dây đàn sắp đứt. Từ đây là vào vùng biển địch. Mỗi ngọn sóng trườn qua mạn tàu, mỗi đám mây trôi lờ lững trên bầu trời đều có thể là nơi ẩn nấp của hiểm nguy.
Võ Bằng cảm nhận rõ ràng sự thay đổi trong nhịp thở của những người chung quanh – họ nói ít hơn, động tác nhanh và dứt khoát hơn, ánh mắt hướng triền miên về biển bắc mờ sương. Trung tá Đạt xuống phòng Chiến báo quan sát các mục tiêu nổi trên mặt radar.
Gió đông-bắc khô và lạnh, thổi từ biển vào đất liền, tập hợp sức mạnh dòng hải lưu cố gắng đẩy chiếc trợ chiến hạm lệch khỏi đường đi. Đôi lúc, gió trở mạnh và xoay chuyển thất thường, làm rối loạn mọi ước tính của Võ Bằng về độ trôi giạt. Anh yêu cầu Trung tâm Chiến báo xác định vị trí. Giọng nói của anh vang lên trong ống nói, bình tĩnh nhưng đủ để mọi người nhận ra sự tập trung cao độ của người chỉ huy. Lịch sử hải chiến Thái Bình Dương cho biết, dọc ngoài khơi tỉnh Quảng Bình, có khá nhiều thương thuyền bị đánh đắm. Một khinh tốc đỉnh đã từng va vào và phải tự phá hủy.
Như để tăng thêm không khí thù địch, bầu trời càng tối hơn, sóng gió mạnh hơn. Bỗng nhiên, mũi Rạch Gầm đột ngột xoay chín mươi độ. Con tàu nghiêng hẳn về mạn trái. Chiếc ghế của anh thủy thủ ngồi quay bánh lái trượt tuột theo độ nghiêng. Anh bám chặt bánh lái, gượng đứng thẳng, mặt tái nhợt. Chiếc ghế đổ nhào, vang lên tiếng động khô khốc. Anh rên rỉ, nhăn nhó vì cú va đập. Hạ sĩ quan trực vội vàng chạy đến dựng lại chiếc ghế. Võ Bằng nhanh chóng ban các lệnh cần thiết để đưa con tàu trở về hải trình.
Võ Bằng nhấc điện thoại nội bộ gọi phòng máy, nói với Thiếu úy Ngô Quang:
– Sóng to, gió lớn. Hãy theo dõi cẩn thận các đèn báo động để sửa chữa kịp thời. Chỉ thị nhân viên thi hành tức khắc và chính xác mọi lệnh của đài chỉ huy.
– Nhận rõ, thưa Hạm trưởng.
Ngay lúc đó, sĩ quan trực và hai nhân viên bỗng nhiên tranh nhau ói mửa, không kịp bước đến cái xô để sẵn. Đài chỉ huy thoáng chốc tràn ngập mùi hôi khó chịu. Võ Bằng cố nén cảm giác buồn nôn đang dâng lên nơi cổ họng, hít thật sâu. Không được phép tỏ ra yếu đuối, anh tự nhủ. Không được phép. Cố vấn Mỹ mặt nhăn nhó nghiêng người ra ngoài.
Phiên trực vẫn tiếp diễn trong yên lặng, chỉ thỉnh thoảng bị cắt ngang bởi tiếng báo cáo ngắn gọn từ các nhân viên quan sát. Biển đêm chỉ xạc xào tiếng sóng nhưng đủ để buộc người đi biển luôn luôn tỉnh táo.
Bỗng có tiếng báo cáo từ phòng CIC vọng lên:
– Đài chỉ huy. Radar phát hiện nhiều mục tiêu nhỏ cách bờ từ một đến hai hải lý. Tín hiệu yếu, có thể là tàu đánh cá.
Ba chiến hạm lặng lẽ đi qua. Tín hiệu của những chiếc tàu đánh cá mờ dần, rồi mất hẳn. Càng lên phía bắc, mật độ tàu thuyền càng thưa, như thể họ đang đi trên con đường dẫn vào một cạm bẫy khổng lồ, nơi kẻ thù đã dọn sạch tất cả để chờ đợi.
Nửa đêm, ba chiến hạm ngang qua Đồng Hới. Từ xa, ánh đèn thành phố sáng tỏa thành một vùng vàng nhạt trên nền trời đen thẫm.
Hai mươi phút sau, Trung tá Đạt ban lệnh tiến vào bờ. Theo kế hoạch, khi còn cách năm trăm thước, trong thời gian Chỉ huy trưởng Biệt Hải điều động việc đổ bộ bằng xuồng cao su, Rạch Gầm yểm trợ hải pháo khi cần.
Võ Bằng nâng kính hồng ngoại tuyến. Bờ biển hiện ra như một dải lụa vàng, một số nơi leo lét ánh đèn lẻ loi như những đốm lửa ma trơi trên một nghĩa địa khổng lồ.
Nửa tiếng sau, giọng Thiếu tá Thân vang lên từ máy vô tuyến:
– Trình thẩm quyền, Biệt Hải hoàn tất đổ bộ.
Trung tá Đạt đáp, giọng vẫn bình thản:
– Chúc may mắn. Gặp lại bạn như đã hẹn.
Ông ra lệnh HQ817, HQ818 thả truyền đơn. Hàng trăm bọc nylon chứa truyền đơn được thả xuống biển, nhờ sóng đưa vào bờ. Trên sân sau, các nhân viên nhanh chóng bơm khí heli vào những quả bong bóng mang bọc truyền đơn, kết thành chùm lần lượt bay lên.
Võ Bằng lại nâng ống nhòm quan sát. Những bọc truyền đơn trôi lềnh bềnh trên sóng, đong đưa như những chiếc chai đựng thư cầu cứu của những người đi biển tuyệt vọng. Còn trên không, chúng tựa những cụm mây lơ lửng, chầm chậm di chuyển vào vùng ánh sáng vàng vọt của thành phố Đồng Hới. Cảnh tượng thật đẹp, một vẻ đẹp lặng lẽ và thiêng liêng đến nao lòng. Mỗi quả bóng là một sứ giả, mang theo hy vọng mong manh về sự thống nhất, về một tiếng nói tự do và niềm hy vọng cho những người dân đang sống trong màn tăm tối.
Nhưng vẻ đẹp ấy không kéo dài được bao lâu. Từ bờ, những tiếng nổ trầm đục vang lên, xé tan màn đêm yên tĩnh. Không phải đại bác, mà là tiếng súng máy phòng không hạng nặng. Những loạt đạn 14,5 ly và 37 ly từ các đồn bót ven biển bắt đầu phóng lên dồn dập, vẽ nên những sợi chỉ lửa đỏ rực bầu trời, đuổi theo những quả bóng mỏng manh. Nhiều quả trúng đạn, vỡ tung, những tờ truyền đơn rơi xuống lả tả như những cánh bướm trắng bị vùi dập trong cơn mưa lửa.
Những chùm đạn cũng lao vút về phía biển khơi, nơi họ nghi ngờ có tàu xâm nhập.
Tiếng nói từ HQ817 và 818:
– Trình thẩm quyền, công tác hoàn tất.
Giọng Trung tá Đạt bình tĩnh lạ thường:
– Chúng ta bắt đầu di chuyển dọc theo duyên hải từ đây đến thành phố Vinh. Nếu địch bắn, Rạch Gầm vừa phản pháo vừa tiếp tục di hành. Nơi nào có nhiều ánh đèn, hai khinh tốc đỉnh tiếp tục thả truyền đơn cả trên không lẫn dưới biển.
Gió không quá mạnh, chỉ dưới cấp 2 từ hướng đông-bắc. Nhưng những con sóng lớn vẫn cuộn trào, tuy không vỡ thành bọt trắng nhưng đủ nâng Rạch Gầm lên cao rồi hạ xuống, khiến vài người lại tiếp tục ói mửa. Võ Bằng cảm thấy bụng dạ cồn cào, nhưng anh cố nén, tập trung vào màn đêm trước mặt.
Khi đi ngang đảo Yến, phòng CIC báo cáo:
– Phát hiện hai mục tiêu nhỏ từ phía bắc đang tiến nhanh về phía ta. Khoảng cách 15 hải lý.
Trung tá Đạt ra lệnh:
– Chuẩn bị tác chiến.
Tim Võ Bằng bỗng đập nhanh hơn. Anh nhìn về phía bắc, nơi bóng đêm vẫn bao trùm tất cả. Anh nói với sĩ quan đương phiên:
– Nhận còi nhiệm sở tác chiến.
Tiếng còi dồn dập vang lên. Tiếng rầm rập chạy đến các ụ súng. Mọi người khoác vào áo giáp, đội nón sắt.
Đúng lúc ấy, những ánh lửa nháng lên từ phía bờ. Bốn quả pháo rơi xuống gần các chiến hạm, tạo nên những cột nước trắng xóa cao vút. Trung tá Đạt nhìn thấy sự an toàn của ba chiến hạm bị đe dọa nghiêm trọng. Kẻ thù vừa từ bờ, vừa trước mặt. Ông hạ lệnh:
– Tất cả tăng tốc, vượt ra khơi, tránh tầm pháo bờ biển.
Ba chiến hạm lập tức thi hành. Hai chiếc tàu địch phía bắc cũng tăng tốc đuổi theo. Khi đã ra đến vùng nước sâu, cách bờ đủ xa, ba chiến hạm giảm tốc, dàn thành hàng ngang chờ địch.
Những loạt đạn cối từ tàu địch bắt đầu rót xuống. Từng quả đạn gào rít trong không trung, xé toạc mặt biển yên tĩnh. Những cột nước tung cao những đóa hoa tử thần nở rộ, ngày một gần hơn, bủa vây các chiến hạm.
Khi CIC cho biết địch còn cách năm cây số, Võ Bằng ngạc nhiên không hiểu địch trang bị loại súng cối gì mà có tầm bắn xa như vậy. Súng cối 81 ly của Rạch Gầm chỉ hiệu quả ba cây số. Bất ngờ, cả hai tàu địch tăng tốc, lao thẳng vào HQ818 – một pha hành động liều lĩnh và nguy hiểm. Trung tá Đạt nói to từ phòng CIC:
– 76,2 ly, tác xạ.
Võ Bằng ra lệnh bắn bốn quả. Tiếng đại bác chát chúa lần lượt nổ rền, chói tai. Bốn quả vẽ thành đường lửa trước khi tạo tường nước ngay trước mũi tàu đối phương. Cả hai chiếc tàu địch ngoặt gấp, đổi hướng về Rạch Gầm.
Hai quả cối địch rơi cách lái Rạch Gầm mươi mét. Nước và mảnh đạn tóe lên boong sau. Trong đau nhức của cặp mắt vì chói chang, Võ Bằng cầu mong tàu mình được may mắn.
Trung tá Đạt vừa trở lên đài chỉ huy, đã hối thúc Võ Bằng:
– Cho 76,2 ly trực xạ!
Võ Bằng nâng ống nhòm quan sát. HQ817 đang nằm trên đường đạn đạo đến tàu địch, nếu bắn ngay sẽ trúng đồng đội. Anh hạ lệnh tăng máy, cho tàu hướng vào bờ để tìm góc bắn an toàn. Khi đạn đạo đã quang đãng, Rạch Gầm ngưng máy, lắc lư nhẹ trên sóng.
Một phút sau, từ phía mũi, một tiếng nổ siêu thanh khô khốc vang lên. Quả đạn đầu tiên xé toạc trời đêm. Một đường lửa đỏ rực phóng thẳng vào chiếc tàu địch. Quả đạn nổ tung trên mặt biển, cách mũi tàu đối phương không xa. Sức công phá của pháo 76,2 ly tạo nên một cột nước tung cao, sáng tỏ tàu địch. Chiếc tàu rung chuyển, lắc lư dữ dội!
Võ Bằng hạ lệnh:
– Bắn trực xạ hai quả.
Lần này một quả trúng ngay tàu địch. Những tiếng nổ chát chúa, lửa bừng lên cao rồi từ từ tắt ngấm giữa màn đêm. Hai phát tiếp theo nhắm vào chiếc tàu còn lại. Đạn rơi gần, tóe hai cột nước. Tàu địch ngoắt 180 độ, lao hết tốc lực trở ngược về hướng bắc, nhanh chóng biến mất vào đêm đen.
Một sự im lặng kỳ lạ lại bao trùm lên mặt biển. Chỉ còn tiếng sóng vỗ và tiếng máy tàu rầm rập. Trung tá Đạt thở phào nhẹ nhõm, ra lệnh:
– HQ817, 818. Tìm và cứu vớt những người còn sống sót.
– Đáp nhận hành.
Rạch Gầm tiến gần nơi tàu chìm, rọi đèn pha xuống vùng biển nhấp nhô đầy mảnh gỗ. Trong ánh đèn pha rực sáng, những cánh tay vẫy vẫy rồi cố bơi đến Rạch Gầm. Năm người được kéo lên, bị thương nhẹ, được y tá tận tụy săn sóc. Họ cho biết bảy người khác đã chìm theo tàu, không kịp thoát ra.
Võ Bằng nhìn những tù binh với ánh mắt u buồn. Cũng như anh, họ còn trẻ, cũng mặc quân phục, cũng có gia đình ở đâu đó ngoài kia. Chừng nào họ mới được đoàn tụ? Nếu anh bị bắt, chừng nào anh mới gặp lại Như Oanh?
Ba chiến hạm tiếp tục rẽ sóng tiến về thành phố Vinh. Thỉnh thoảng bị pháo kích nhưng không bị chận đường.
Một tiếng sau, Trung tá Đạt ra lệnh quay về đón hai toán Biệt Hải.
***
Năm giờ sáng, công tác hoàn tất, tất cả khởi hành xuôi nam. Phía sau họ, bầu trời Đồng Hới vẫn còn lốm đốm chùm bong bóng bay và những tia lửa đạn vô vọng túa lên trời. Rồi một lúc nào đó, những lời kêu gọi tự do sẽ rơi vào tay người dân, thắp lên trong họ ít nhiều hy vọng đổi đời.
Mười giờ sáng, trên đường về gần đến cửa Tùng, Trung tá Đạt bỗng trầm giọng:
– Phía trước có ba tàu địch.
Võ Bằng nhìn theo hướng tay ông chỉ. Xa xa, ba tàu sơn đen đang nằm chận ngang đường, dáng vẻ đầy uy hiếp. Theo hình dạng, các chiến hạm địch là loại Kronstadt do Trung Cộng chế tạo, có vận tốc cao và hỏa lực mạnh. Trong năm qua, đã nhiều lần toán của Trung tá Đạt bị chận đánh như vậy. Có khi chúng bất ngờ xuất hiện từ Hòn Cọp, có khi từ Hòn Ngư, Hòn Én. Nhưng lần nào các khinh tốc đỉnh cũng bỏ chạy, tránh giao tranh. Cấu trúc của khinh tốc đỉnh không nhằm giao tranh mà chỉ tự vệ. Vũ khí trang bị ở sân sau chớ không sân mũi. Một lý do khác, trên đường về, bao giờ cũng bắt cóc một số ngư dân đưa về Cù Lao Chàm.
Nhưng lần này thì khác. Với ưu thế hỏa lực và tầm xa của khẩu 76,2 ly, Trung tá Đạt tin có thể đương đầu, tạo thành tích bất ngờ. Ông ra lệnh cho hai khinh tốc đỉnh bung ra hai hướng để hai tàu kia đuổi theo, Rạch Gầm một đấu một, nắm chắc phần thắng. Hạ chiếc này xong, lần lượt đuổi theo hạ hai chiếc còn lại.
Tuy nhiên địch cũng cố giành thế thượng phong. Thay vì một đấu một, chúng phớt lờ hai khinh tốc đỉnh để chia ba hướng bao vây Rạch Gầm. Ba chiến hạm đồng loạt nổ súng. Một số tia lửa vụt ngang qua Rạch Gầm. Khẩu đại pháo 76,2 ly gầm lên dữ dội, hai khẩu 40 ly và bốn khẩu 20 ly, và bốn đại liên hai bên mạn thi nhau nhả đạn như mưa. Mặt biển trở thành bãi chiến trường rực lửa.
Một tàu địch trúng 76,2 ly phát nổ, khói lửa bốc lên ngút trời. Mười phút sau, con tàu chìm hẳn, để lại những vòng xoáy nước và những mảnh vỡ trôi lềnh bềnh. Võ Bằng điều khiển Rạch Gầm tiến gần chiếc tàu địch thứ hai. Chiếc này vừa chạy zigzag vừa bắn trả dữ dội. Nhưng rốt cuộc, nó cũng chịu chung số phận như chiếc trước, chìm dần giữa những tiếng nổ long trời.
Một phát đạn từ chiếc tàu địch còn lại, rốt cuộc cũng chạm đài chỉ huy Rạch Gầm. Tiếng nổ chát chúa và dữ dội. Miểng bay rào rào. Võ Bằng cảm thấy một luồng gió nóng rát xoẹt qua tai. Khi bụi khói tan, anh nhìn thấy một thủy thủ nằm bất động trên sàn – tử thương. Trung tá Đạt ôm cánh tay tuôn máu, và hai nhân viên ôm đầu ôm mặt máu nhỏ giọt. Các y tá xuất hiện với túi cứu thương.
Trung tá Đạt nổi nóng, quát:
– Rạch Gầm! Bắn tối đa 76,2 ly! Tiêu diệt nó!
Võ Bằng chuyển lệnh vừa dứt, khẩu đại pháo đã rền những phát đạn liên tiếp. Nhưng mới đến trái thứ tư, Trung tá Đạt lại quát, lần này to hơn:
– Ngưng! Ngưng bắn!
Mọi người nhìn ông rồi hướng về phía ông đang chăm chú. Trên đỉnh cột cờ của tàu địch một mảnh vải trắng được kéo vội lên đang phất phới.
Một sự im lặng kỳ lạ lại bao trùm.
Được lệnh vị chỉ huy, Võ Bằng cho Rạch Gầm cập sát mạn tàu đầu hàng. Mười người lính địch, trong đó có bốn người bị thương, được chuyển qua. Năm xác chết để lại, mặc cho tàu địch trôi lềnh bềnh vô chủ. Nhìn vào ánh mắt hoảng sợ của họ, Võ Bằng bỗng thấy xót xa. Anh nghĩ nếu bị bắt, mình cũng hoảng sợ. Vòng xoáy chiến tranh thật lạ lùng, bên nào cũng tự hào mang máu xương để bảo vệ đất nước. Nhưng đau đớn nhất lại là cùng một đất nước. Chánh nghĩa chỉ còn căn cứ vào cách xây dựng: bên nào giàu có, ấm no, tự do, dân chủ, bên đó có chánh nghĩa.
***
Cuộc hành trình vượt tuyến đang đến hồi kết thúc. Một chiến dịch thầm lặng, đầy nguy hiểm và hồi hộp, nhưng cuối cùng những người lính biển đã làm được điều họ cần làm: hoàn thành sứ mạng với thiệt hại tương đối nhẹ – một người chết, vài người bị thương.
Trên đường về, Võ Bằng thắc mắc nhìn Trung tá Đạt với cánh tay băng bó, máu vẫn còn thấm qua lớp vải trắng:
– Thưa Trung tá, sao phải chở binh lính địch về miền Nam làm chi cho thêm mệt? Cứ để mặc họ xoay sở trên vùng biển của họ, có phải đỡ thêm gánh nặng?
Trung tá Đạt nhìn anh, khóe môi nhếch lên một nụ cười đầy ẩn ý:
– Một là để tra hỏi tổ chức địch. Hai là để huấn luyện họ trở thành nội tuyến. Sau ba tháng cho ăn uống thỏa thuê, phủ dụ chiêu hồi, chúng ta thả họ về quê quán.
Ông ngừng một chốc, nhìn ra biển khơi mênh mông, rồi bất chợt hỏi:
– Anh có nghe đài Gươm Thiêng Ái Quốc bao giờ chưa?
Võ Bằng hơi ngạc nhiên, gật nhẹ:
– Thưa, chỉ một hai lần.
– Thường thì sau công tác, trên đường về, lần nào Hải Tuần cũng chận xét ngư thuyền, bắt cóc một số ngư dân đem về giao cho Mặt trận Gươm Thiêng Ái Quốc. Nhưng lần này bị kẹt chở tù binh và thương binh.
Trung tá Đạt đưa mắt nhìn quanh, rồi nói bằng giọng thấp hơn, như chỉ đủ cho hai người nghe:
– Đài Gươm Thiêng Ái Quốc là tiếng nói của Mặt trận Gươm Thiêng Ái Quốc, một tổ chức có căn cứ trên Cù Lao Chàm, gần căn cứ Hải Tuần. Cạnh căn cứ Gươm Thiêng, người ta xây dựng một ngôi làng theo đúng khuôn mẫu những làng chài dọc bờ biển Bắc Việt. Nhân viên trong làng nói giọng Bắc, sinh hoạt theo đúng tục lệ Bắc, nói chuyện về đời sống dưới chế độ cộng sản nghèo đói, rỉ tai về tổ chức Mặt trận Gươm Thiêng Ái Quốc và hoạt động của nó nhằm đem lại đời sống ấm no không như chế độ cộng sản.
Ông dừng lại, như để những lời vừa nói thấm vào người nghe:
– Ngư dân Bắc Việt bị Hải Tuần bắt cóc, được đưa về sống trong ngôi làng ấy, phát cho họ quần áo mới, ăn uống đầy đủ, tặng một radio nghe đài Gươm Thiêng Ái Quốc. Khi họ tin đang có kháng chiến chuẩn bị lật đổ chế độ miền Bắc, họ sẽ thổ lộ những tin tức đặc biệt, những điều xấu xa của các nhân vật cộng sản mà họ biết. Tình báo miền Nam khai thác những tin đặc biệt ấy. Còn Đài Gươm Thiêng Ái Quốc – cơ quan tuyên truyền của Mặt trận – phát thanh những tin xấu xa để gây chia rẽ trong giới lãnh đạo Bắc Việt.
Võ Bằng lặng người. Trước mắt anh, cuộc chiến không chỉ là những trận hải chiến bằng súng đạn, không chỉ là những chuyến vượt tuyến đầy hiểm nguy. Nó còn là những chiến dịch tâm lý tinh vi, những toan tính thầm lặng mà anh chưa từng hình dung hết.
Năm giờ chiều, ba chiến hạm cập cầu hậu cứ Mỹ Khê. Ngay sau khi bàn giao tù binh cho Sở Phòng Vệ Duyên Hải, Rạch Gầm được trả về Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng 1. Hạm trưởng Võ Bằng được Tư lệnh Vùng 1 tiếp kiến. Ông hỏi han, ngợi khen, cấp phương tiện chở thi hài tử sĩ và hai nhân viên bị thương về Sài Gòn. Ông cho Rạch Gầm ba ngày dưỡng sức, tu bổ máy móc, bổ sung đạn dược. Sau đó sẽ nhận công tác mới.
Võ Bằng chào từ giã.
Bước ra khỏi phòng Tư lệnh, anh ngước nhìn bầu trời Đà Nẵng chiều muộn, những áng mây hồng trôi nhẹ trên biển. Một câu hỏi cứ quanh quẩn trong đầu:
“Công tác gì đây? Lại vượt vĩ tuyến?”
Tự dưng anh rùng mình. Tại sợ hay tại cơn gió chiều trở lạnh?
CHƯƠNG 36
BÊN BỜ HÀN GIANG
Sau giấc ngủ nhiều mộng mị, Võ Bằng dậy khá trễ.
Vừa ăn sáng anh vừa nghe hạm phó trình bày công việc trong ngày. Thi hài thủy thủ Trịnh Cương đã được căn cứ đưa ra phi trường. Phòng Xã Hội Hải Quân ở Sài Gòn sẽ phối hợp cùng gia đình lo hậu sự. Hai thủy thủ bị thương đang được săn sóc tại bệnh xá Tiên Sa.
Riêng chiến hạm, các ban ngành đang lo phần vụ thường nhật. Ngoài chi đội trực, hai chi đội còn lại đã được phép đi bờ.
Sau khi cùng hạm phó và ban nội vụ vào bệnh xá thăm thương binh, Võ Bằng dặn:
– Nếu có việc gì cần, tìm tôi ở bãi Tiên Sa.
Bãi biển chỉ cách nơi tàu cập cầu chưa đầy một cây số. Anh quyết định đi bộ. Trong quá khứ, anh đã nhiều lần đến đây. Bãi nằm trong khu quân sự nên vẫn còn giữ được vẻ hoang sơ, tĩnh lặng. Cảnh sắc không khác gì một bức thủy mặc: giản dị mà sâu lắng.
Bãi biển hình cánh cung, cát trắng mịn, chạy dài gần cả cây số. Ở hai đầu bãi, những ghềnh đá nhấp nhô đủ hình thù, khoác lên mình lớp rêu phong của thời gian, in bóng xuống mặt nước lặng như gương.
Khác với những bãi biển ở các quần đảo quanh Phú Quốc, đáy biển nơi đây hoàn toàn không có san hô. Chỉ là lớp cát mịn, long lanh. Nước trong lạ lùng. Gần bờ thì màu ngọc bích, có thể thấy từng gợn cát. Xa hơn là màu xanh thẫm. Và tận phía chân trời, màu nước chuyển sang tím biếc.
Những con sóng hiền hòa vỗ nhẹ lên bờ rồi rút xuống, để lại trên cát những bọt sóng trắng xóa, tựa viền ren cho tấm thảm xanh khổng lồ.
Xa xa, vài chiếc tàu đánh cá lắc lư theo nhịp sóng.
Võ Bằng cởi bỏ quần áo ngoài, chỉ còn quần tắm. Anh chậm rãi bước xuống nước. Nước biển mát lạnh, dâng dần lên thân thể. Từng tế bào như được thả lỏng. Mọi âu lo, căng thẳng của những ngày chiến trận dường như tan ra theo làn nước.
Anh ngửa người bơi ếch dọc theo bãi ba trăm mét, rồi thư thả bơi sải trở lại.
Đã mấy năm rồi anh không bơi xa như thế. Khi chạm bờ, anh mệt gần đứt hơi.
Anh nằm ngửa trên cát, thở một lúc rồi nằm sấp, gác đầu lên cánh tay. Mặt trời và gió xuân vừa đủ mát đưa anh thiếp ngủ.
Tiếng động khẽ làm anh hé mắt. Trên mặt biển óng ánh nắng trưa, một vật tròn đen đang nhấp nhô theo sóng.
Anh ngồi bật dậy, nhìn kỹ hơn. Đó là một… đầu người. Người ấy đang vẫy tay, bơi dần vào bờ.
Rồi bất chợt… hình bóng đó biến mất. Khi nổi lên, khuôn mặt hiện ra khiến anh sững sờ.
Như Oanh.
Mắt anh mở to. Đúng là Như Oanh. Sao nàng lại ở đây?
Giờ này đáng lẽ nàng đang đứng trên bục giảng. Một người cá mượn hình? Hay chính anh nằm mơ?
Thân hình nàng dần dần hiện rõ khỏi mặt nước. Những giọt nước lấp lánh trên làn da. Mái tóc đen dài bám vào cổ và bờ vai.
Trong bộ đồ bơi ôm sát thân thể, nàng hiện lên như một hình ảnh vừa thực vừa mộng.
Võ Bằng vụt đứng dậy, chạy vội đến đón. Nàng cười, chìa tay:
– Còn nhớ không? Huỳnh Như Oanh đây.
Anh nắm chặt tay nàng:
– Võ Bằng.
Cả hai ôm nhau cười giòn… Võ Bằng rối rít:
– Sao em biết anh ở đây?
– Anh ở đâu… em đều biết.
Anh nhìn sâu vào mắt nàng, như để chắc rằng nàng đang thực sự hiện hữu. Một cảm giác lạ lùng dâng lên trong lòng anh.
Hai người đứng ở mép nước. Sóng vờn bàn chân như ngày mới quen ở An Thới. Anh bóp tay nàng:
– Nếu bãi biển này chưa có tên thì anh sẽ đặt là Tiên Sa.
Như Oanh bật cười:
– Nó vốn mang tên Tiên Sa mà.
– Phải chi ngày xưa tiên không xuống tắm thì anh đặt tên bây giờ càng thích hợp.
– Đừng có nịnh.
Nàng nắm chặt tay anh, kéo ra biển.
Nước dâng lên đến cổ, rồi bất chợt nàng buông tay…
***
– Dậy đi! Nắng thế này mà cứ mộng mơ!
Tiếng quát làm Võ Bằng choàng tỉnh. Anh mở mắt. Trước mặt là hai thằng bạn cùng khóa đang cười hề hề.
Lâm nói:
– Mau lên đi ăn rồi đi chơi với tụi tao.
Đường tiếp lời:
– Về tàu thay quần áo. Hôm nay tụi tao đưa mày đi du hí, coi như mừng còn gặp nhau.
Chiếc xe Jeep quân sự phóng bon bon trên con đường đất đỏ ven sông Hàn. Gió biển thổi vào mặt, mang theo hương vị đặc trưng quen thuộc. Hai bên đường, những rặng dương xanh rì nghiêng ngả trong nắng.
Xe qua cầu Trình Minh Thế, thẳng tới chợ Cồn. Tô bún bò Huế nóng hổi, nhiều thịt, đầy hương vị. Bia 33 ngon hơn thường lệ. Võ Bằng nhởn nhơ thưởng thức thêm một tô nữa, bù cho ba ngày sóng gió ăn uống cầm hơi.
Xong bữa ăn, Lâm bảo tài xế đưa về đường Độc Lập rồi cho xe về sở. Anh căn dặn trở lại rước lúc mười giờ ở nhà hàng Ánh Trăng.
Cả ba vào một con hẻm nhỏ tráng xi măng, quanh co, hai bên là những căn nhà quét vôi bong tróc với những cửa ngõ khác màu. Mùi thơm các loài hoa từ dãy hàng rào tỏa ra man mác.
Lâm dừng trước một cánh cửa gỗ cũ kỹ, bên trên treo một chiếc đèn lồng mang hàng chữ Quán Câm. Võ Bằng nhìn Lâm, ngạc nhiên. Lâm chỉ cười, đẩy cửa bước vào.
Bên trong là một khoảng sân nhỏ, lát gạch đỏ. Bên trên một giàn hoa ti-gôn màu hồng che kín cả khoảng trời. Dưới giàn hoa, hai dãy bàn, mỗi bên năm được kê trước một sân khấu. Bảy bàn đã đầy khách, đang thì thầm trò chuyện.
Một người đàn ông trạc năm mươi, mặc áo dài the đen, đội khăn xếp, bước ra đón họ. Ông có khuôn mặt hiền từ, đôi mắt sâu hoắm như chứa đựng cả một trời ký ức.
Ông nói, giọng trầm ấm:
– Chào các cháu. Có đặt bàn trước không?
Lâm đáp:
– Dạ rồi, cháu tên Lâm.
Ông già gật đầu, dẫn ba người vào bàn chỉ định. Giàn hoa màu hồng đang nở rộ. Võ Bằng thích thú ngẩn ngơ đứng nhìn. Hoa ti-gôn màu hồng thật đúng ý, đang tỏa tâm tư của anh: khao khát, nhớ nhung, mong ngày đoàn tụ.
Võ Bằng hỏi:
– Hết tên đặt, sao lại chọn “Quán Câm”?
Đường thì thầm:
– Chủ quán là một nghệ sĩ cải lương nổi tiếng Sài Gòn. Sau một cơn bệnh, ông bị mất tiếng, ra đây mở quán này. Tụi tao thường đến sau mỗi công tác. Ông có những màn trình diễn rất nghệ thuật. Những động tác mộc mạc, những câu chuyện đầy ý nghĩa giúp chóng xua đuổi các ám ảnh, căng thẳng. Đặc biệt, những câu chuyện được kể bằng… tay.
Võ Bằng ngạc nhiên kêu khẽ:
– Bằng tay?
Lâm mỉm cười:
– Đừng nghĩ bậy! Ở đây không có các tiếp viên như ở snack bar. Kể chuyện bằng tay là kể qua nghệ thuật múa rối.
Võ Bằng nhìn sân khấu với bức màn nhung đã bạc màu. Anh đã có kịp xem vài màn múa rối trên truyền hình, nay xem tận mắt hẳn càng thú vị.
Ông chủ quán đến, một tay nâng khay đựng ấm trà và ba chung nhỏ in họa tiết hoa lài, tay kia dĩa mè xửng và bánh in nhân đậu. Ông rót trà, mỗi chung vừa đủ một ngụm. Nước trà vàng óng, thơm mùi sen.
Giọng ông khàn khàn phát ra tiếng độc nhất, khó nghe:
– Mời.
Cả ba nâng chén trà lên môi. Trà nóng, hơi chát nhưng sau đó ngọt, thơm lắng sâu ở cuống họng. Võ Bằng cảm thấy như có một luồng khí ấm áp lan tỏa khắp cơ thể. Những sợi thần kinh chùng xuống.
Bỗng nhiên, tiếng đàn tranh từ sân khấu vang lên. Nhẹ nhàng, da diết. Tấm màn từ từ kéo ra. Đôi tay ông chủ quán thoăn thoắt điều khiển những con rối bằng vải màu, biến chúng thành những nhân vật có hồn. Võ Bằng mê mẩn theo dõi câu chuyện về một chàng ngư phủ cứu nàng tiên cá thoát khỏi cá mập, được nàng tặng viên ngọc quý. Nhưng rồi chàng bị kẻ gian hãm hại lấy mất viên ngọc. Nàng tự nguyện thay thế. Cả hai tìm thấy hạnh phúc bên nhau.
Tiếng đàn tranh lúc trầm lúc bổng, lúc nhanh lúc chậm, hòa quyện với từng động tác của những con rối. Cả khoảng sân chìm trong nhạc âm và tiếng gió thổi qua giàn hoa ti-gôn.
Anh nghĩ tới Như Oanh. Phải chi không là giấc mơ mà nàng đến thật bên anh, chắc cũng thích thú như anh.
Kết thúc màn múa rối, ông chủ quán bước ra, cúi chào mọi người. Tiếng vỗ tay vang lên. Ông chỉ cúi đầu cảm tạ, không nói một lời.
Võ Bằng nói to:
– Hay quá! Cám ơn bác.
Chủ quán mang thêm ấm trà mới… Cả ba kể chuyện buồn vui sau ngày ra trường cho đến gần giờ trình diễn suất kế tiếp.
Quán không đề giá. Lâm trả theo hảo tâm. Võ Bằng tặng thêm một ít tiền thưởng.
Cả ba đi bộ đến nhà hàng Đồng Vinh nằm khoảng giữa đường Độc Lập. Võ Bằng cũng từng vào các nhà hàng lẫn các quán cà phê nhạc trên con đường nhộn nhịp nhất của thành phố này nhưng chưa vào Đồng Vinh. Ở đây có những món ăn miền Trung lạ miệng, rất ngon. Anh lại thêm một lần no bụng thỏa thuê.
Khi rời Đồng Vinh, phố đã lên đèn. Những dãy đèn vàng vọt đủ soi sáng mặt đường tráng nhựa còn mới. Thỉnh thoảng, một chiếc xe lam chạy qua, tiếng nổ bình bịch vang góc phố.
Mười lăm phút sau, cả ba vào đường Bạch Đằng. Quang cảnh không còn thơ mộng như những lần tàu anh ủi bãi gần Viện Cổ Chàm. Con đường tình tự dọc sông Hàn giờ mọc lên vô số snack bar. Nhạc rock ồn ào tràn ra đường. Những cô gái mặc áo dài, áo đầm đứng mời gọi lính Mỹ.
Đà Nẵng đổi thay. Chiến tranh đi tới đâu, phố xá đổi khác tới đó.
Đường chỉ ngôi biệt thự tường trắng cửa xanh bên tay phải hướng về núi Sơn Trà:
– Giang sơn của thị trưởng Đà Nẵng đó, cùng quân chủng.
Nhà hàng Ánh Trăng nằm ở cuối, chếch nhà vị thị trưởng, khá đông khách. Cũng như Đồng Quê quán, tiếng nhạc êm dịu bàng bạc không gian.
Lâm chọn bàn bên ngoài, vừa nhìn trăng sao vừa ngắm dòng sông lấp lánh. Gió biển từ cửa sông Hàn thổi vào mát rượi.
Một phụ nữ trạc bốn mươi, mặc quần jeans xanh, áo sơ mi trắng, tóc búi cao, bước ra tiếp đón. Chị có khuôn mặt khả ái, đôi mắt buồn xa xăm, nhưng nụ cười thì rất tươi.
Chị hỏi, giọng nhẹ nhàng:
– Quý khách dùng chi?
Đường nói:
– Chị cho một chai rượu thuốc và vài món nhậu.
Chị hỏi:
– Rượu thuốc ngâm rắn hổ?
– Đúng trăm phần trăm.
Chị quay vào trong. Võ Bằng có hơi ngạc nhiên. Anh cứ tưởng thứ rượu thuốc này chỉ có ở miền Tây.
Lâm nhìn Võ Bằng, cười:
– Hôm nay, đặc biệt dành cho miệt cò bay thẳng cánh của mày.
Võ Bằng bóp bàn tay hai bạn tỏ ý cám ơn. Lâm sinh quán ở Huế, Đường ở Đà Nẵng, nhưng không ngờ họ vẫn nhớ gốc gác của anh.
Chị chủ mang ra dĩa mực nướng và dĩa đậu phộng. Mực tươi, nướng trên than hồng, chấm với muối tiêu chanh. Võ Bằng tách một sợi râu, bỏ vào miệng nhai. Thịt dai, ngọt, thơm không thua mực vùng Phú Quốc.
Nguyên con rắn cuộn tròn lên tới miệng chai rượu thuốc có màu vàng óng như mật ong. Rót rượu ra ba ly thủy tinh nhỏ, Đường nói:
– Uống đi mày. Ly này mừng cho ba thằng mình còn sống sót.
Họ cụng ly. Rượu vào cổ họng, nóng ran, thơm mùi thuốc bắc. Nhưng sau đó là cảm giác ấm áp lan tỏa khắp cơ thể, như thêm sức mạnh. Cả ba lặng thinh nhâm nhi mồi. Giọng Chế Linh qua Hận Đồ Bàn nghe não nuột. Thỉnh thoảng tiếng sóng ầm ì vọng đến. Trăng lưỡi liềm lơ lửng hướng đông, soi sáng một khúc sông.
Lâm rót rượu cho cả ba rồi nâng ly:
– Ly này để tưởng nhớ các bạn ta đã nằm xuống, cho những người đã nằm xuống.
Đường nói, giọng buồn buồn:
– Sau tám năm từ ngày ra trường, khóa mình đã có sáu thằng đền nợ nước. Gần như mỗi năm một thằng. Năm nay tới ai? Và năm tới sẽ là ai?
Đường ngừng lại, rót thêm rượu. Im lặng bao trùm. Võ Bằng nhìn ra sông. Hình ảnh người bạn đồng khóa tử thương đầu tiên ở trận Ba Rài năm 1965 lờ mờ hiện ra. Hai người kế tiếp cùng năm 66, ở miền Trung. Người thứ tư, trên sông Hàm Luông năm 1967…
Võ Bằng ực cạn ly. Rượu cay xè cổ họng, hòa với nỗi xót đau trong lòng.
Chị chủ quán lặng lẽ đặt lên bàn thêm một dĩa mực nướng và một dĩa đậu phộng. Chị nhìn Võ Bằng, nói nhẹ nhàng:
– Hai món này chị mời chú em, khách mới. Không tính tiền. Chỉ mong tái ngộ.
Võ Bằng cảm ơn chị. Chị cười, rồi xoay bước.
Bỗng nhiên, từ bờ sông, một giọng hò Huế êm ái, da diết, ngọt ngào vọng đến:
Khoan ơi khoan hò ơi ơi…
Đêm khuya ngớt tạnh mù khơi,
Khúc sông quạnh vắng, có người sầu riêng.
Cả ba nhìn ra bờ sông. Một chiếc thuyền nhỏ đang trôi lững lờ, trên thuyền có một người con gái mặc áo dài trắng, tóc xõa lung linh dưới ánh trăng.
Đường nhìn đồng hồ, mỉm cười:
– Người đẹp đúng hẹn.
Cô gái lại hò tiếp:
Một mình cả chống cả chèo
Không ai tát nước đỡ nghèo một phen.
Đường nói nhỏ với Võ Bằng:
– Cô bé đó tên Mai Chi. Nghe đâu cha mất trong một cuộc đụng độ. Ban ngày học Sao Mai, tối lên ghe hát hò kiếm tiền nuôi mẹ già và em nhỏ. Thấy thì tội nghiệp nhưng giữa thời buổi nhiễu nhương… thực hư khó biết.
Chiếc thuyền từ từ tiến vào bờ. Cô gái bước lên, nhẹ nhàng, uyển chuyển. Dưới ánh trăng, Võ Bằng thấy rõ khuôn mặt cô. Một khuôn mặt thanh tú, với đôi mắt to, đen, ẩn chứa một nỗi buồn xa xăm. Mái tóc dài thả xuống bờ vai, phất phơ trong gió. Anh chợt nhớ thiết tha mái tóc của Như Oanh.
Cô vào quán, nhìn quanh, rồi tiến lại bàn Võ Bằng, cúi chào:
– Chào anh Đạt, anh Thành. Và chào anh…
Đường lên tiếng:
– Lê Cung, bạn tụi này, ở Sài Gòn. Đây là Mai Chi.
Võ Bằng không ngạc nhiên khi bạn tự đổi tên của mình. Anh đã được biết tất cả mọi người trong Sở Phòng Vệ đều mang tên giả.
Võ Bằng vui vẻ:
– Chào Mai Chi.
– Anh cũng… lính?
– Trông tôi không giống lính sao?
Lâm nhanh nhảu kéo ghế:
– Mời ngồi. Mai Chi uống gì?
– Dạ, em xin một chai nước lọc.
Võ Bằng thân mật nói:
– Anh mời một ly nước dừa, làm quen.
– Cám ơn anh Cung.
Anh gọi tiếp viên. Cô gái uống từng ngụm nhỏ. Đôi tay cô thon dài, trắng ngần, khiến anh liên tưởng đến bàn tay Như Oanh – bàn tay của một người không phải làm lụng nặng nhọc.
Anh khen:
– Giọng hò của cô thật ngọt ngào, tình cảm. Nếu cô hát sẽ rất thành công, mau giàu…
Mai Chi cười buồn, nhỏ nhẹ:
– Em đã đi hát nhưng rồi sợ không gian phòng trà…
– Ban đêm một mình trên sông, đáng sợ hơn chứ?
– Nhà em bên kia sông. Cũng chỉ quanh quẩn khúc sông có đông hàng quán này.
– Cô hò trên sông thì làm sao kiếm tiền?
– Có ai gọi thì ghé vào. Hoặc có hẹn trước như anh Đường, anh Lâm.
Võ Bằng thật thà:
– Nhan sắc của cô thế này, đâu khó để chọn một người xây dựng mái ấm.
Cô nhìn Võ Bằng, đôi mắt bỗng sâu thẳm:
– Có chắc là ấm không anh? Hay càng lạnh, càng buồn đau? Đã hai người đeo đuổi em, cả hai lần lượt đi hành quân, không thấy về!
Mai Chi nói với giọng bình thản, không than vãn, không oán trách. Võ Bằng lòng dâng lên một niềm xót thương. Giữa cuộc chiến tranh khốc liệt này, cô vẫn cố giữ cho mình một nhân cách, một tâm hồn.
Võ Bằng vui vẻ nói:
– Tôi đâm thích giọng hò Huế, khác hẳn giọng hò miền Tây. Cô vui lòng cho tôi thưởng thức chứ?
Không chần chừ, Mai Chi mỉm cười cất tiếng. Dù đã quen nghe giọng Huế, nhưng giọng hò nhỏ nhẹ, thánh thót, ngâm nga phần lớn chỉ được Võ Bằng thưởng thức qua cảm nhận:
Ờ hơ ớ hơ…
Núi cao chi lắm núi ơi,
Núi che mặt trời không thấy người thương.
Thương chi cho uổng công trình,
Bạn về xứ bạn bỏ mình bơ vơ.
Lên chùa thấy Phật muốn tu,
Về nhà thấy Mẹ công phu chưa đền.
Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng,
Nhớ cha thương mẹ quá chừng bạn ơi!
Cô say sưa hò khoảng nửa giờ, uống cạn trái dừa rồi đứng lên từ giã.
Võ Bằng vội vàng ngăn lại:
– Mới chín giờ, ở thêm chút nữa.
– Như anh thấy, vì vấn đề an ninh.
– Chờ một chút.
Anh rút bóp, lấy một số tiền khá khẳm đưa cho Mai Chi:
– Mong có ngày gặp lại.
Mai Chi nhận tiền, cúi đầu:
– Cảm ơn anh Lê Cung. Em cũng rất mong được gặp lại.
Cô bước xuống thuyền, nhẹ nhàng chèo ra xa. Võ Bằng ngồi nhìn theo cho đến khi chiếc thuyền chìm hẳn trong bóng đêm.
Khi quay lại, Võ Bằng bắt gặp hai nụ cười hóm hỉnh của Lâm và Đường.
Võ Bằng hỏi:
– Tụi mày cười gì?
Lâm trêu chọc:
– Tương tư rồi chăng?
– Không được sao?
Đường úp mở:
– Trong chiến tranh… nhiều người sống giữa hai thế giới. Cẩn thận là hơn.
Võ Bằng nhớ lại ánh mắt của Mai Chi. Ánh mắt linh động thường hướng về hai thằng bạn của mình. Anh đáp trả:
– Tao tương tư thì tụi mày hẳn… tương tri!
Lâm cười:
– Tương tri chỉ để dò xét.
Đường tiếp lời:
– Phòng tình báo Sở Phòng Vệ lâu lâu bắt một người đẹp hoạt động lấy tin cho địch. Vui Xuân, đừng quên Tết Mậu Thân.
Võ Bằng đâu dễ quên kinh nghiệm đắng cay của mình. Chẳng qua chỉ là một cảm thông thường tình trước người gặp hoàn cảnh khó khăn. Tuy vậy, anh cũng nói nhỏ “tụi mày có lý” rồi chậm rãi nâng ly rượu, ra dấu cùng uống cạn.
(còn tiếp)
Vũ Thất |