SỐ 110 - THÁNG 4 NĂM 2026

 

Ngồi quán

1.
Có giai thoại sau về Jean Sibelius mà mỗi khi nhớ lại tôi đều cười mỉm một mình. Ông là nhà soạn nhạc lỗi lạc của xứ Phần Lan, sống vào nửa đầu thế kỷ XX. Dân tộc Phần Lan vô cùng hãnh diện về ông, một đóng góp to tát vào nền âm nhạc thế giới từ một quốc gia thưa dân nằm mãi tít tận địa đầu châu Âu. Thuở sinh tiền, ông có tật thích ra ngồi quán với bạn bè. Một hôm trong lúc đang ngồi như thế thì nhân viên phục vụ bảo ông có điện thoại. Vợ ông gọi. (Cố nhiên thời đó chưa có điện thoại di động, nhưng có lẽ vợ ông giữ trong bàn giấy tất cả những số điện thoại hàng quán ông hay la cà.) Giọng vợ ông trong máy:

“Ông ơi! Ông liệu mà về nhà đi. Ông biết bây giờ là mấy giờ rồi không?”

Trả lời vợ, ông nói rõ to vào máy trước mặt bạn bè ông:

“Bà nó ơi! Tôi là nhà soạn nhạc, làm sao tôi biết bây giờ là mấy giờ!”

Đám bạn ông được một trận cười no bụng.

Không biết giai thoại trên có bao nhiêu phần sự thật, nhưng văn nghệ sĩ hình như ai cũng thích ngồi quán, cho dù đó là thiên tài có một không hai như Mozart. Xem phim Amadeus, tôi thấy Mozart hay nửa đêm trốn vợ, xách chai rượu chui vào một quán rượu nào đó và vui chơi ca hát nhảm nhí với các nàng kiều nữ (vâng, Mozart là người biết sống lắm) cho đến lúc trời ửng sáng mới rón rén quay về phòng ngủ với vợ con.

Chẳng phải thiên tài nhưng chúng tôi - vài người bạn văn còn sót lại trong cái thị trường chữ nghĩa ở hải ngoại - cũng thích ra quán ngồi lắm. Hở được khoảng trống nào trong lịch khóa biểu cuối tuần là chúng tôi nháy máy di động hẹn nhau ra quán ngay.

Nơi chúng tôi hay ngồi là quán cà phê do một người Việt làm chủ, ngay trung tâm Quận Cam bang California rất đông dân Việt. Tôi chưa từng thấy quán cà phê nào xấu xí và nhếch nhác hơn. Bàn ghế thô tạp, cái bằng nhựa, cái bằng gỗ, cái bằng sắt - có lẽ người chủ mua ở chợ trời, garage sale, hay nhặt được từ bãi phế thải - bày la liệt trước quán, chiếm hết lối người đi bộ. (Tôi không ngạc nhiên bởi từ lâu thành phố Sài Gòn đã không còn lối cho người đi bộ, và khu phố Sài Gòn Nhỏ phía nam bang California này chỉ là sự “tiếp nối sao sát truyền thống đó” mà thôi.) Cà phê thì phải trút vào tách nửa hũ đường mới át được vị khét. Phía trước quán là bãi đậu xe to rộng, lúc nào cũng chật cứng đủ loại ô tô lớn nhỏ. Ngồi đây, mùa đông còn đỡ, mùa hè hơi nóng phả vào mặt như ngồi trước ống bễ của anh thợ rèn. Quán không có lấy một bóng cây xanh. Ngồi xung quanh là những khuôn mặt không khác chúng tôi bao nhiêu, trẻ nhất cũng là lứa tuổi tri thiên mệnh. Có cụ không thể dưới tám mươi nhưng trông vẫn còn phương cương, phong độ. Cụ nói cười oang oang đến nỗi xuýt văng ra hai hàm răng giả. Nhìn quanh quất mãi tôi vẫn chẳng tìm ra bóng hồng nào dù chỉ là một bóng hồng đang độ tàn phai. (Một trong các thú ngồi quán của bọn đàn ông là nhìn hoa hồng.) Các cô phục vụ thì chỏng lỏn đến độ phát ghét, ghét nhất là các cô cứ gọi tôi bằng chú.

Quán như thế nhưng chẳng hiểu sao chúng tôi vẫn hẹn nhau đến ngồi hàng giờ nói chuyện vãn. Cũng như tôi chẳng thể nào hiểu nổi tại sao chúng tôi vẫn lọ mọ, mày mò viết lách trong hoàn cảnh sống nơi xứ người, vẫn vắt óc tìm cảm hứng từ những mảnh vụn trong cuộc sống tha hương để gửi gắm vào thơ văn như con dã tràng xe cát.

2.
Cách đây hơn hai mươi năm, lúc mới tập tễnh bước vào làng văn hải ngoại, tôi và một số bằng hữu văn nghệ lúc đó bạo gan xuất bản một cuốn tuyển tập quy tụ hơn hai mươi nhà thơ, nhà văn khởi viết ở hải ngoại sau thời điểm 1975. Thi thoảng cầm lại cuốn sách tôi nhận ra một sự kiện là, trong số hơn hai mươi người đó, chí ít ba phần tư từ lâu lắm đã hoàn toàn vắng bóng trên văn đàn. Số còn lại, năm sáu người, trong đó có tôi, vẫn viết lai rai cho đến bây giờ.

Tôi không rõ những người khác nghĩ sao nhưng riêng tôi thì có lúc nhìn vào gương tôi bảo chính tôi, “Thôi chứ! Chú mày bẻ bút là vừa! Nhiêu đó đủ rồi, đủ phiền hà thiên hạ lắm rồi, chú mày biết không?”

Tôi không rõ nguyên do, động lực nào thúc đẩy tôi vẫn tiếp tục viết.

Để tự trả lời có lẽ tôi đành mượn câu nói của bà Joyce Carol Oates, nhà văn nữ kiệt xuất của văn học Mỹ đương đại. Bà bảo viết văn và mơ mộng có cùng một nguyên do, một động lực thúc đẩy - “bởi chúng ta chẳng thể nào không mơ, bởi mơ là thao tác nằm tự nhiên trong trí tưởng tượng của con người.” Viết và mơ là một, bà bảo thế.

Nhưng đừng hiểu sai ý bà, bởi vì viết không phải là hành vi chạy trốn thực tại, không phải vì không kham nổi đời sống nên phải đi núp sau bức bình phong văn chương.

Một nhà văn nữ khác, bà Flannery O'Connor (ra đời trước Joyce Carol Oates mười ba năm, lẫy lừng không kém) bảo, “Viết không phải là đào thoát khỏi thực tại, viết là nhảy thật sâu vào thực tại và khiến hệ đời sống như bị chấn động bởi cơn sốc." Bà nói thêm, "... nhà văn là kẻ vẫn còn hy vọng trên cõi đời, kẻ không còn hy vọng không viết văn.”

Có lẽ bởi thế tôi vẫn viết, mặc dù những lý lẽ biện giải hai bà đưa ra cao đẹp quá khiến tôi thấy ngờ ngợ, chẳng biết có đúng với mình hay không.

3.
Cuộc cách mạng tin học với sự bùng nổ của mạng lưới thông tin toàn cầu khiến đời sống con người thế kỷ XXI như mang diện mạo mới và đời sống văn học Việt hải ngoại không tránh khỏi những đổi thay nghiêm trọng gây nên bởi bước tiến nhảy vọt này.

Đi ngược thời gian, nhìn lại dòng chảy tiến hóa của nền văn học hải ngoại, chúng ta có thể tạm gọi quãng thời gian từ 1975 đến 2000 là thời kỳ “văn học lưu vong,” nếu hiểu “lưu vong” là “tan mất.” Đó là thời đoạn khi người ta vẫn chưa tan cơn sốc của biến cố lịch sử 30/4 sau một thời gian dài nội chiến. Khi bỏ xứ ra đi người ta xem như mất hết, mất quê hương và mất cả cội nguồn. Thậm chí, nếu hiểu sống “lưu vong” là sống trong “tình trạng trôi giạt” như các vị tiền bối đầu thế kỷ XX thì thuật ngữ này khi áp dụng nơi đây vẫn là chính xác, bởi có thể người ta không “nay Thiên Tân, mai Thượng Hải, mốt Đông Kinh,” nhưng tâm hồn họ lúc nào cũng bất định, họ không biết trú xứ tâm hồn mình là nơi đâu cho dù đời sống vật chất ai nấy dần dà trở nên ổn định. Tâm hồn họ luôn luôn ở trong “tình trạng trôi giạt.”

Bởi thế, thuật ngữ “lưu vong” khi dùng trong ngữ cảnh này hàm chứa một ý thức chính trị rõ rệt. Ý thức đó hiển lộ trong những tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ lúc bấy giờ. Họ viết những điều người đọc háo hức chờ đợi. Sự tan rã của cả một tập thể con người, quê hương đang hấp hối trong nghèo đói và tù đày, thảm trạng thuyền nhân, đời sống mới nơi xứ người thì thảm thương, nhếch nhác... Toàn những đề tài nóng bỏng mà người viết và người đọc đều có thể chia sẻ dễ dàng. Văn chương ở đây không cần nhiều hư cấu, họ viết thật hiện thực, ngòi bút họ chỉ cần sao sát với thực tại là đã được người đọc nhiệt tình đón nhận. Họ không tìm kiếm “bản ngã,” cũng không có những công trình đào xới tư duy siêu hình, họ không chạy theo các trào lưu tư tưởng thế giới. Thi ca Hậu Hiện đại, Giải Cấu trúc luận, với họ, là những gì còn xa lạ. Họ viết những điều người đọc muốn đọc, và sự khởi sắc của thời kỳ này là dựa trên căn bản đó. Nhược điểm đương nhiên của họ là khi viết hết trải nghiệm đời sống rồi thì họ ngưng bút luôn. Cả người viết lẫn người đọc trong giai đoạn đầy hứng khởi này là một thực thể “đóng,” người viết trong nước, nếu có tham dự, chỉ là một số rất ít chuyển lén được tác phẩm của mình ra ngoài.

Bước sang thiên niên kỷ III, tình trạng này biến đổi sâu sắc. Ý thức “lưu vong” càng lúc càng mờ nhạt dần. Bạn chẳng thể nào bảo tôi bạn đang sống “lưu vong” trong khi người ta ùn ùn kéo nhau về nước mở tiệm phở, xây khách sạn, tậu nhà cho thuê! Văn học tất yếu biến thiên theo thời thế. Văn học có lẽ đã can đảm vứt bỏ cái vỏ ốc chính trị cồng kềnh mang trên người để mong tiến đến những miền đất hoa thơm cỏ lạ xa hơn. Đã có những người viết (nhất là bên lĩnh vực thi ca) có thực tài và thực tâm muốn làm mới, muốn khai phá những miền đất lạ, nhưng sự tiếp nhận nơi người đọc có vẻ eo xèo, hờ hững lắm. Tôi có thể bắt chước Octavio Paz đổ thừa vào nền văn hóa đại chúng vốn lúc nào cũng mạnh mẽ, hung hãn, chỉ chờ nghệ thuật chân chính yếu kém một chút là lấn lướt đè bẹp ngay. Nhưng tôi không thể không nói đến quán tính của người đọc. Người đọc càng ngày càng ít đi, đa phần những người còn lại cũng không chịu thay đổi tư duy, không sẵn sàng hành trang để chấp nhận cái gì “mới” mặc dù các nhà phê bình của chúng ta tốn khá nhiều giấy mực chuẩn bị cho chuyện này.

4.
Trước khi biết đến công nghệ Print-on-Demand, ngành xuất bản sách báo văn học của cộng đồng hải ngoại gần như chết hẳn và thay vào là những trang mạng văn chương, chuyên biệt lẫn bán chuyên biệt. Internet là phương tiện thông tin và giao cảm tuyệt hảo cho cộng đồng loài người vốn càng ngày càng phức tạp và đa chiều kích, và bởi lý do có tính quy luật đó, văn chương thời Hậu Hiện đại trở thành diễn ngôn của đa số chứ không phải thiểu số ưu đãi nữa. Internet là một lợi ích không ai có thể chối cãi. Xuất bản, nhất là xuất bản các tác phẩm văn chương, là rất khó khăn trong hoàn cảnh của cộng đồng Việt hải ngoại những năm gần đây vì nhiều lý do, trong đó hai lý do chính là độc giả càng ngày càng ít đi và bưu phí gửi sách đi xa lại quá cao.

Thời đoạn vừa qua chúng ta chứng kiến sự dịch chuyển hệ hình có tính tất yếu trong văn học Việt Nam hải ngoại: gần như toàn bộ nền văn chương được đưa lên mạng. Kỳ thực, ít ai có chọn lựa nào khác trong hoàn cảnh một cộng đồng di dân, rời rạc, thiếu thốn. Mặc dù chưa phải là cái gì tuyệt hảo, bởi vẫn có những nhược điểm không tránh nổi, văn chương mạng giải quyết được nhiều vấn nạn, thí dụ như giúp thi ca có chốn “nương tựa” vì nếu không, thơ không biết bám víu vào đâu để tiếp tục cuộc hành trình vô hạn định của mình. Và quả tình nó cũng bật mở nhiều khía cạnh thú vị khác, như sự ra đời và lớn mạnh của thể loại truyện chớp. Văn chương mạng đáp ứng được yêu cầu năng động của một thế giới đang bay với tốc độ ánh sáng. Nó sẽ ở lại với chúng ta trong thời gian lâu dài sắp tới, nếu không muốn nói là vĩnh viễn, dù bạn có chấp nhận nó trong ngôi nhà riêng của mình hay không.

Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ người viết, tôi vẫn không cảm thông trọn vẹn với một nền văn học hoàn toàn dựa vào Internet. Viết trên mạng giống như hành động ném viên sỏi xuống mặt hồ, viên sỏi biến mất tăm mà mặt hồ chỉ gợn lên dăm ba làn sóng nhỏ rồi lại lặng im như cũ. Có lẽ đó là bản chất của Internet. Với một liều lượng thông tin quá tải, cái gì cũng trở nên nhanh, ngắn, gọn. Như một món ăn nhanh, đọc xong quên ngay, thậm chí khi đọc cũng chỉ đọc lướt. Thêm nữa, văn chương mạng thiếu những công trình dài hơi, gần như không có tiểu thuyết, chất lượng bài vở không đều. Nói một cách ngắn gọn, Internet tốt cho mục đích thông tin hoặc diễn ngôn, tranh luận, nhưng quả tình không mấy tốt cho văn học. Và có lẽ bởi thế mà nước Mỹ, nơi khai sinh ra Internet, vẫn chủ trương duy trì một nền văn học in giấy: các quý san văn học (Paris Review, Tin House, Iowa Review, New England Review, v.v...) vẫn xuất bản đều đặn; tạp chí Poetry vẫn bày bán trong các hiệu sách. Chẳng những thế, ngành xuất bản tiểu thuyết thuộc văn hóa đại chúng (với các tác giả danh tiếng như Dan Brown, John Grisham, Danielle Steel, v.v.) vẫn phát triển mạnh. Các ông lớn bà lớn (Hillary Clinton chẳng hạn) muốn lên tiếng, viết sách. Muốn để tiếng thơm cho đời sau, viết sách. Muốn tạo ảnh hưởng chính trị, kinh tế, viết sách. Tối nào trên kênh truyền hình PBS, hai ông Charlie Rose và Tavis Smiley (trước khi mất job vì bị tố về tội sách nhiễu tình dục) cũng giới thiệu dăm ba cuốn sách mới. Sự thật là cầm cuốn sách trên tay đọc vẫn là cái thú của hầu hết chúng ta hiện nay khi đọc một tác phẩm tầm vóc.
Tuy vậy chẳng ai có thể đi ngược lại những diễn biến có tính tiến hóa của thời đại, và nhờ thế những trang mạng văn chương trở thành phương tiện cung cấp đất đai cho nhiều cây bút mới tung hoành. Ngày nay, nhìn sơ quát, tôi vừa bi quan lẫn lạc quan.

Bi quan bởi người đọc càng ngày càng ít, thêm vào đó, khoảng cách mỹ học giữa người viết và người đọc cũng gia tăng đáng kể, nhất là bên lĩnh vực thi ca. Người đọc là thành tố tối hậu của đời sống văn học. Không có người đọc, đời sống này chết ngúm. Tôi không tin vào một nền văn học trong đó người viết và người đọc là một.

Nhưng tôi cũng lạc quan bởi nhìn quanh, tôi thấy đội ngũ người viết vẫn còn đông đảo. Có người viết cũ bỏ bút nhưng cũng có không ít người viết mới xuất hiện. Những người viết mới này chứng tỏ được tài năng vượt trội, bút lực mạnh mẽ, cá tính độc đáo và nhất là họ bắt được nhịp đập của văn học thế giới nhờ chịu khó tiếp cận. Quá khứ nặng nghìn cân không trì hãm, quản thúc họ. Mặc kệ các cụ quan văn đội mũ cánh chuồn ngồi phán những điều cao đẹp nghe có vẻ như là chân lý, họ đội mũ bóng chày xoay ngược rồi tung tỏa, bay bổng tự do như lướt sóng; họ viết như họ sống, ăn, thở, làm tình. Nhờ họ tôi tìm ra niềm hứng khởi tiếp tục viết.

5.
Thế nhưng vẫn còn lý do khác khiến tôi chưa bẻ bút, mặc dù cái gã alter-ego chết tiệt của tôi cứ nèo nẹo đeo theo mắng nhiếc tôi hoài.

Tôi đến thăm nhà văn Nguyễn Mộng Giác hôm anh từ bệnh viện về sau ca mổ gan. Tôi ngồi nói chuyện với anh trong phòng ngủ, anh nằm trên giường bệnh, mặt mày còn xanh lướt. Tôi hỏi han anh về bệnh tình nhưng anh chỉ ậm ừ trả lời. Tôi ngỡ anh còn mệt nên định nói thêm đôi ba câu nữa rồi xin kiếu từ, nhưng anh đột nhiên bắt sang chuyện văn chương và từ lúc đó trở đi tôi thấy nét mặt và giọng nói anh khác hẳn. Anh linh hoạt hẳn lên và chúng tôi nói chuyện với nhau - toàn chuyện văn chương chữ nghĩa - gần như suốt thời gian thăm viếng người bệnh.

Tôi biết chính cái đam mê trong lòng, tận sâu đáy lòng, đã khiến tôi chưa bẻ bút.

Tôi hẹn hôm nào anh hồi phục sức khỏe “anh em mình lại đi uống cà phê, anh nhé.” Vâng, chúng tôi lại hẹn nhau ra cái quán cà phê bên vệ đường không một bóng cây xanh, không một bóng hồng, để nói những chuyện chẳng đâu vào đâu cho đến khi vợ nháy máy di động gắt tướng trong máy, “Làm gì mà cà phê cà pháo suốt ngày thế! Đi về! Cà phê ở nhà thiếu gì, về mà uống.”

Trịnh Y Thư
(Chỉ là đồ chơi, Tạp bút, Trịnh Y Thư, Định dạng eBook, Văn Học Press, 2023)

 

 

Copyright © biển khơi & tác giả 1998-2026