SỐ 110 - THÁNG 4 NĂM 2026

 

NGUYÊN CẨN: TÌM LẠI GIÁ TRỊ CỦA CON NGƯỜI

Đỗ Trường

Những năm gần đây, mỗi khi nhớ hoặc muốn tìm hiểu về quê nhà, tôi thường tìm đến văn thơ của Trần Kỳ Trung (Hội An) và Nguyên Cẩn (Saigon). Bởi mỗi biến cố xã hội, con người xảy ra đều được hai bác nhà văn đưa vào trang sách mang tính thời sự một cách nóng hổi, sinh động. Cùng xuất thân từ nhà giáo, dạy bậc đại học, và cái lõi hiếm hoi của kẻ sĩ (thời nay) còn sót lại. Dọ vậy, hiện thực và nhân đạo là hai yếu tố chính làm nên những tác phẩm của hai nhà văn này. Mấy năm trước, tôi đã viết khá kỹ về chân dung Trần Kỳ Trung, còn Nguyên Cẩn tôi đã đọc nhiều, song quả thực cầm bút lên, lại đặt xuống, băn khoăn mãi. Bởi tài năng, khối kiến thức mà Nguyên Cẩn đã trải dài trên hai chục tác phẩm ở đủ mọi thể loại từ: thơ ca, truyện ngắn, tản văn, bút ký, phê bình văn học cho đến dịch thuật, rồi những công trình nghiên cứu Phật giáo, và cả những trang sách (như giáo trình) về văn hóa, kinh tế, giáo dục thật sâu sắc. Nếu nói, Nguyên Cẩn là một nhà văn hóa, thì quả thực cũng chẳng ngoa tẹo nào.

Tiến sĩ Nguyên Cẩn tên thật là Phạm Văn Nga, sinh năm 1956 tại Saigon. Ông đã từng giảng dạy tiếng Anh, kinh tế ở các trường Đại học Nha Trang và Saigon.

Có thế nói: “Dựng lại con người” được xuất bản gần đây là một trong những tác phẩm giá trị nhất của Nguyên Cẩn. Bởi, ông không chỉ viết bằng tài năng, trí tuệ, mà nó còn như những công trình (khổ công) nghiên cứu, điều tra so sánh về kinh tế, xã hôi học hôm nay, gắn liền với chiều dài lịch sử văn hóa dân tộc, và nhân loại. Để từ đó, Nguyên Cẩn như muốn tìm lại giá trị cuộc sống, giá trị con người vậy. Vâng, giá trị này không chỉ ở những bài viết nghiên cứu kinh tế, xã hội học, mà nó còn xuyên suốt sự nghiệp văn thơ của ông. Tuy rất khoái tác phẩm: “Dựng lại con người” nhưng rất tiếc, tôi không đủ khả năng đi sâu vào lãnh vực này của Nguyên Cẩn. Bởi thế trong khuôn khổ bài viết này, tôi chỉ đi vào thi ca của ông mà thôi.

Nếu ở truyện ngắn Nguyên Cẩn bó gọn trong khuôn khổ nghệ thuật kể chuyện cổ điển truyền thống, nhất quán có hậu, mang nặng tư tưởng Phật giáo, thì đến với thi ca tuy vẫn mang mang triết lý Đạo giáo, song hồn thơ ông đã thoát ra khỏi cái ràng buộc khuôn mẫu ấy.  

*Tình yêu: khúc ca chiều ru.

Tình yêu, sự cảm thông dường như đã thấm đẫm hồn thơ Nguyên Cẩn. Bởi vậy. ngay từ những ngày đầu bước chân lên bục giảng, tấm lòng bao dung ấy đã cho ông cảm xúc viết nên: “Cho tôi gọi tên em”. Với tôi, đây là một trong những bài thơ hay, xúc động nhất của thi ca Việt Nam trong vài chục năm gần đây về đề tài giáo dục. Thật vậy, tuy lời thơ mộc mạc, song gõ đúng vào tâm lý nơi học đường, mối quan hệ, tình thày trò. Và cũng chính nó gợi tôi cảm xúc để đi sâu vào đọc và viết về Nguyên Cẩn:

“Cho tôi gọi tên em mau vào lớp học
Nhưng giờ truy bài tôi chẳng gọi tên em
Vì tôi hiểu chiều qua em còn cắt lúa
Ánh đèn dầu không đủ sáng qua đêm
Cho tôi gọi tên em khi vụ mùa đang tới
Trời tháng ba nắng cháy rát da người” (Cho tôi gọi tên em)

Tình yêu đôi lứa. một đề tài có thể nói, không văn nhân thi sĩ nào không thử bút qua. Nhưng bộc lộ cảm xúc qua hàng loạt câu thơ, hình ảnh với các biện pháp tu từ so sánh, ví von để bật lên cái giá trị của em của tình yêu, thì quả thật không có nhiều nhà thơ viết như Nguyên Cẩn. Và “Nghĩ về em” là một bài thơ ngũ ngôn như vậy. Đọc thoáng qua, dường như ta thấy sự so sánh ấy mang tính liệt kê, và không nghĩ nó nằm trong Top những bài thơ hay của Nguyên Cẩn. Song đọc chậm lại một lần nữa, nó làm tôi chợt nhớ đến: Tình Ca Ban Mai của Chế Lan Viên. Bởi ngoài cặp đôi với khoảng cách cân xứng “Nghĩ về em” còn có hình ảnh đẹp, và gợi cảm: “Em như ngọn lửa hồng/ Thắp tình anh đêm tối/ Em như một nhánh sông/ Qua lòng anh tắm gội/ Em như là bóng mây/ Che chiều anh khô cháy/ Em như con nước đầy/ Xô bờ anh thức dậy”.

Tình yêu, hạnh phúc là vậy, song ngọn lửa giữa đêm đen ấy chợt tắt làm cho Nguyên Cẩn hụt hẫng, chơi vơi. Với tâm trạng cùng nỗi đau mất mát như vậy, nó là chất liệu sống để ông viết nên: “Tập Rồi Quen”. Với tôi, đây là một trong những bài thơ hay nhất ở thể bát ngôn của Nguyên Cẩn. Tôi đọc Nguyên Cẩn khá nhiều, song hoàn toàn không hề quen biết ông. Do vậy, không biết Nguyên Cẩn viết bài thơ này bằng cảm xúc từ người yêu, người vợ hay từ đâu? Tuy nhiên, với sự tưởng tượng cùng từ ngữ rất mộc mạc Nguyên Cẩn làm cho người đọc rung động và đồng cảm sâu sắc:                                               

“Tập quen dần với những đêm không em,
Bốn vách hẹp căn phòng như vô hạn,
Cơn mơ ngắn mà tưởng chừng vô tận,
Ngày vơi dần anh sợ những hoàng hôn
Tập quen dần với cuộc đời không em,
Khi nhắm mắt thấy em về quay quắt,
Trong nỗi nhớ một vầng trăng chửa tắt,
Buổi xa đời ai gọi mãi tên nhau”

Nhìn lại chiều dài văn học sử, ta thấy những bài thơ về mẹ thường được viết ở thể lục bát. Nhưng Nguyên Cẩn đã ru mẹ bằng bát ngôn thơ. Một thể thơ cổ, song khá cởi mở về niêm luật kể từ khi có phong trào thơ mới. Và Nguyên Cẩn đến với nhiều thể loại thơ, song tôi nghĩ sở trường của ông vẫn là bát ngôn, hay thất ngôn. Bởi, dường như phần nhiều bài thơ hay của ông đều ở những thể thơ này, và cho tôi nhiều cảm xúc khi đọc. Và “Khúc hát chiều ru” là bài thơ điển hình như vậy. Ở đó, không chỉ có tình yêu thương của cha mẹ, mà còn có tiếng nấc thi nhân vọng lên từ hương khói, được thông qua những hình ảnh so sánh thật dân dã và gần gũi. Song đọc lên, ai cũng phải nghẹn ngào xúc động:

“Cha che tay rừng chắn gió muôn phương          
Mẹ tuôn ra hồn tràn dâng suối cuộn         
Mát lòng con chan chứa bể yêu thương (…)         
Con còn đó hôm nay trong bão tố          
Thấy mong manh cánh lá giữa vô thường          
Xin cúi lạy thâm tình xưa bất tận         
 Gọi tên người bốn phía chỉ mây vương”

Cái băn khoăn hoài tưởng về Saigon xưa, hay quê nhà cũ của Nguyên Cẩn, mỗi lần đọc làm tôi nhớ đến tâm trạng nhà thơ Nguyễn Văn Gia (Đà Nẵng): “Chẳng còn đâu bóng tre xanh/ Quê nhà giờ đã trở thành cố hương/ Ngậm ngùi ta giữa phố phường/ Mơ mùa trăng cũ ruộng vườn tiếng chim.”. Nếu Nguyễn Văn Gia chỉ dừng lại ở sự ngậm ngùi, tiếc nuối, thì Saigon, hương sắc xưa dường như đã chết trong hồn thơ Nguyên Cẩn. Vẫn thể bát ngôn “Một mai nếu em về” một bài thơ điển hình về tâm trạng buồn thương, mất mát như vậy của Nguyên Cẩn. Tôi đã đọc khá nhiều thơ ở đề tài này của các tác giả khác nhau. Nhưng có thể nói, “Một mai nếu em về” là một trong những bài thơ đã cho tôi nhiều rung động nhất. Bởi sự chân thực đã chạm đến tận cùng cảm xúc của người đọc:

“Espresso không thấm vị nhân tình
Giữa Starbucks nhớ café bít tất
Nghe quanh tôi xe và người dẫu chật
Xa vắng rồi hương sắc của ngày xưa…
Vẫn còn đó phố phường luôn tất bật
Một chút Sài Gòn đã chết trong tôi”

Có một điều đặc biệt, tuy rất giỏi ngôn ngữ Anh, Pháp và kiến thức sâu rộng ở nhiều lãnh vực, nhưng từ ngữ thi ca Nguyên Cẩn vẫn giữ được sự giản dị, gần gũi. Do vậy, thơ ông đến được với mọi tầng lớp người đọc. Tình yêu là khía cạnh quan trọng bậc nhất trong sự nghiệp sáng tạo của ông. Với tình yêu sâu sắc và trong sáng như vậy, đã cho Nguyên Cẩn đủ nghị lực, can đảm đến với những vần thơ thế sự xã hội.  

*Bức tranh xã hội dưới ngòi bút sâu sắc, chân thực.

Đi sâu vào đọc, nghiên cứu ta có thể thấy, ngay từ ngày đầu cầm bút Nguyên Cẩn đã cột chặt thơ văn của mình vào thân phận đất nước, con người: “khi bi kịch vẫn diễn ra khắp chốn/ và đời chọn tôi viết lại lòng mình” (Lựa chọn). Với tư tưởng, cùng tấm lòng chính trực trong sáng như vậy, đã cho Nguyên Cẩn đủ can đảm chọc thẳng vào cái ung nhọt thối tha, đớn hèn của những kẻ cầm bút tưởng chừng cao đạo. Dù có được che chắn, nhưng bộ mặt thật ấy vẫn bị phơi bày dưới ngòi bút của ông: “Có những nhà thơ không còn báo bão/ Mà ngợi ca rực rỡ ánh dương lên/ Những câu thơ che mặt gọi thành tên/… Có những nhà thơ nay còn chiếc ghế/ Bốn chân xoay tám hướng vẫn còn nghiêng/ Sợ lăn chiêng nên phải ngồi thủ thế” (Có những nhà thơ). Đi thẳng vào những điều nóng bỏng, bỉ ổi nhất của xã hội, thơ Nguyên Cẩn vẫn nhẹ nhàng, song làm người đọc phải bật ra tiếng cười khinh bỉ trong nỗi buồn đớn đau. Với tư duy liên tưởng cùng hình ảnh hoán dụ (hay) ẩn dụ mang ý nghĩa châm biếm mỉa mai sâu sắc, do đó thơ thế sự Nguyên Cẩn có sức sống lâu dài, dù thơ văn ở đề tài này thường có tuổi thọ (rất ngắn) nhất thời: “Đã tô vẽ bao nhiêu tượng đài/ mà đá tảng cứ muôn năm tảng đá” (Điều chưa thể giải thích).

Có một điều khá thú vị, nếu khẩu ngữ làm nên tính đặc trưng thơ thế sự của Thái Bá Tân hay Bành Thanh Bần, thì hình tượng là giá trị đặc sắc trang thơ về hiện thực xã hội của Nguyên Cẩn. Và “Suy niệm về ngụy ngữ” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của ông về đặc điểm này. Thật vậy, Sự dối trá trơ trẽn đó đã được nhà thơ kết nối, liên tưởng đến hình ảnh ám dụ độc đáo. Đọc “Suy niệm về ngụy ngữ” chợt làm tôi nhớ đến những câu thơ rất hay của Nguyễn Trọng Tạo: “Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ/ Như con chiên ngoan đạo chợt bàng hoàng/ Nhận ra chúa chỉ ghép bằng đất đá”. Và ở đó, không chỉ Nguyễn Trọng Tạo, mà dường như cả Nguyên Cẩn cũng muốn hóa giải cho thứ u mê bùa ngải bấy lâu:

“Có những lời nói dối được tháp trong khung kính
Hóa trang nghiêm xin phép cúi nghiêng chào
Lời trung thực cũng như lời xu nịnh
Hệt như nhau khi nói tự trên cao
Có những lời nói dối được bày ra triển lãm
Có những lời nói dối một đời không biết
Khi hiểu nhầm tướng cướp với thiền sư (…)
Có những con vẹt cũng biết cười biết khóc
Theo lập trình rèn luyện đã từ lâu
Có những lời nói dối tạc sâu vào đá
Hóa thạch rồi đồng nghĩa với linh thiêng” (Suy niệm về ngụy ngữ)

Mỗi sự kiện, hay một biến động nào đó xảy ra đều được Nguyên Cẩn ghi lại, bằng cảm xúc, chính kiến của mình nhào nặn ra những trang viết đầy trách nhiệm trước cuộc sống và con người. Bởi vậy, thơ ông không chỉ nóng hổi tính thời sự, mà còn có cả những luận bàn và lời cảnh báo. Và“Chính Chủ” một bài thơ có sự liên tưởng độc đáo, với giọng điệu trào phúng của Nguyên Cẩn làm cho người đọc phải bật ra tiếng cười chua cay, sẽ chứng minh cho ta thấy điều đó:

“khi anh phạt tôi vì xe không chính chủ
bố tôi qua đời chửa kịp sang tên
sao không hỏi non sông này chính chủ…
mà Tam Sa ai cấp phép xây đồn
xua nghìn quân hung hăng múa võ 
khiến cha ông buồn: mình chửa kịp sang tên?
nên con cháu bây giờ đâm sợ hãi
còn địa đồ nào không chính chủ hay chăng“

Từ nghịch lý ấy, Nguyên Cẩn vẽ nên bức tranh xám xịt của xã hội bế tắc một cách chân thực. Nếu không sự cảm thông, sẻ chia nỗi đau với tha nhân, thì chắc hẳn nhà thơ không thể viết được những câu thơ nghẹn ngào đến vậy. Và “Những người đi tìm cái chết” là một bài thơ điển hình mang khí chất ấy của Nguyên Cẩn. Không hề có luận tội, và trách nhiệm thuộc về đâu, nhưng bài thơ như mũi khoan xoáy bi thương vào hồn người đọc:

“Đất nước không chiến tranh nhưng người ta vẫn đi tìm cái chết
Có bà mẹ ở An Xuyên tự tử cho con khỏi mất tiền mua thuốc
Để dành tiền học phí
Có em gái 15 ở Pleiku đêm qua đã chết
Khi không có tiền đóng phạt giao thông
Có bao nhiêu cái chết buồn hơn
Mà tôi không biết“

Không dừng ở đó, ngòi bút can đảm Nguyên Cẩn lột mặt nạ giặc phương Bắc qua giọng văn, từ ngữ châm biếm, song cũng thật hào khí: “và ta đã 13 lần đánh bại “đối phương”/ muôn dân ơi, Tổ quốc gọi lên đường/ vì Tổ quốc không bao giờ sợ Lạ!”. Buồn đau là vậy, song lời thơ Nguyên Cẩn không hề đao to búa lớn, mà nó như một lời mỉa mai, trách móc chính ông, hay cho cả thế hệ ông thờ ơ, nhu nhược trước cái ác, và thối nát của xã hội, hiểm nguy của dân tộc. Âu đây cũng là một trong những đặc điểm làm nên hồn vía thơ văn Nguyên Cẩn:

“Những vần thơ rực lửa ngày xưa
Sao anh không viết tiếp
Hay lửa đã tắt rồi
Trong anh
Hôm nay
Khi anh đang no say
Ôm cuộc đời mà ngủ” (Gởi một người bạn cựu sinh viên)

Mấy chục năm gần đây xuất hiện rất nhiều người làm thơ, nhiều đến nỗi tưởng chừng đã bội thực thi ca, tuy nhiên Văn học Việt vẫn thiếu vắng văn nhân thi sĩ đủ bản lĩnh đi sâu vào đề tài xã hội. Bởi vậy, sự xuất hiện Nguyên Cẩn đã góp phần không nhỏ làm sống lại Văn học hiện thực phê phán. Với tư tưởng cùng sự can đảm đi đến tận cùng của sự thật, những trang thơ văn (sống) ấy của Nguyên Cẩn đã được mọi tầng lớp người đọc đón nhận. 

*Mang mang hồn thơ thiền triết.

Nếu từ nỗi đau thể xác, nỗi buồn tâm lý đã đưa nhà thơ bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc đến với Thiền, với khoa học Phật giáo, thì bế tắc cuộc sống, xã hội con người đã hướng tâm hồn, ngòi bút Nguyên Cẩn đến gần nơi cửa Phật. Bởi vậy, thiền pháp là chốn bình yên trong tâm hồn, và mở cho ngòi bút Nguyên Cẩn một lối thoát: “Tôi ngồi tựa pháp qua sông/ Đò nghiêng sóng động mà lòng thản nhiên/ Tôi ngồi ngắm bóng mây thiền/ Bến xưa trời cũ muộn phiền nước trôi“. Sự giải thoát linh hồn cho Nguyên Cẩn nhận ra quy luật tự nhiên của cuộc sống con người. Bởi vậy, sự nhẹ nhàng sinh tử nơi chốn bình yên ấy, không chỉ trong thơ, mà còn trong cuộc sống Nguyên Cẩn:

“Tôi cứ đi trên cỏ
Vì sợ đời trôi nhanh
Hôm nay đi trên cỏ
Mai kia dưới cỏ, nằm
Trong ta ngừng ngọn gió
Đã thổi suốt trăm năm
Và ngàn sau lại hẹn
Hồn ta trên cỏ xanh” (Ngọn cỏ)

Sự liên tưởng làm nên hình tượng văn học, nó như sợi dây kết nối tác giả, tác phẩm đến với người đọc. Cho nên, đọc Nguyên Cẩn sự liên tưởng độc đáo ấy, nhất là những trang viết mang mang hồn cổ phong cho tôi sự rung động sâu sắc. Thật vậy, những hình ảnh gần gũi, giản dị qua phép liên tưởng, Nguyên Cẩn gây bất ngờ cho người đọc hình tượng về mối quan hệ con người với thiên nhiên vũ trụ trong vòng quay luân hồi: “Trôi như là giọt lệ/ Tan ra là hạt sương/ Quay quắt giữa vô thường/ Hóa thành mây bay mãi/ Giọt nước lại luân hồi“. (Mai anh làm tro bụi). Và nếu được phép lựa chọn, với tôi: “Một lần tản mạn“ là một trong những bài thơ bát ngôn hay nhất ở đề tài này. Một thể thơ sở trường của Nguyên Cẩn. Bài thơ này, dường như ông viết trong những ngày dưỡng bệnh? Vì vậy, lời thơ, hình ảnh thật đẹp, song rất mong manh trong cái lẽ biến động, vô thường:

“Có những lúc thấy mình như cơn gió
Một sớm nào bất chợt trút tàn hơi
Là lúc ta thanh thản bước xa đời
Với tất cả buồn vui trong một kiếp
Có những lúc thấy mình như vạt nắng
Ngoài sau nhìn chiếc bóng lúc chiều rơi”.

Đã đi gần hết một kiếp người, mà dường như sóng gió vẫn còn chưa yên, làm cho nhà thơ nặng nỗi ưu phiền. Sự tĩnh tâm ấy, vẫn chưa đủ xua đi bụi lầm, sóng xô chăng: “Đã đi mòn một khoảng trời/ Đường mây cánh mỏi mà đời chửa yên/ Đêm đêm lắng đọng ưu phiền/ Chắt chiu một giọt hương thiền tĩnh tâm/ Nhân gian quay quắt bụi lầm/ Bão từ mê vọng mạch ngầm sóng xô”. Bởi vậy, trở về nơi cửa Phật là con đường bình yên duy nhất cho linh hồn Nguyên Cẩn. Và cũng chỉ ở đó, nhà thơ mới tìm, nhận ra giá trị cuộc sống, giá trị con người:

“Về ngồi lại mái chùa xưa tĩnh mịch
Soi bóng mình trên vách đá mù câm
Thấy hàng cây muôn kiếp vẫn âm thầm
Vui trong gió, thuận lòng theo lẽ Dịch”. (Về ngồi lại)

Với hồn thơ phảng phất tính thiền triết, Nguyên Cẩn không chỉ cho ta thấy được lời than, nỗi buồn chua chát, sự cảnh tỉnh ý thức dân tộc: “Ôi ngàn năm văn vật/ Đất nước buồn vật đó văn đâu?” mà còn như sự giải thoát, biến tham sân si thành giới định tuệ cho người đọc vậy. Vâng, âu đó cũng là giá trị chân thiện mỹ mà thơ văn Nguyên Cẩn mang đến cho người đọc, cũng như văn học nước nhà.

(Tôi định viết về thơ và truyện ngắn Nguyên Cẩn trong cùng bài này, nhưng đi sâu vào đọc và viết về thi ca của ông không thể dứt ngay ra được, bởi bề dày, chiều sâu của nó. Và thành thật, viết không hết ý nghĩ của mình, kể cũng hơi bị bực mình. Vì vậy, tuy rất khoái truyện ngắn Nguyên Cẩn, song tôi đành phải gác lại, nếu không bài viết quá dài. Thôi đành viết vào dịp khác vậy).

Leipzig ngày 14-1-2026
Đỗ Trường

 

 

Copyright © biển khơi & tác giả 1998-2026