Tháng Ba, Đất Bằng Nổi Sóng
TRẦN THỊ NGUYỆT MAI
Trong Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, nhà báo Trung tá Phạm Huấn ghi lại:
“Từ 13 giờ trưa hôm qua, 17-3-1975, khi những chiếc xe Thiết Giáp đầu tiên vào Phú Bổn, ‘phố Quận’ này đã nhộn nhịp hẳn lên. Sau đó, đợt này qua đợt khác, xe và người chen chúc dồn vào như… nêm cối. Cả trăm ngàn người co rút trong cái thị xã nhỏ bé này. Vì bị làn sóng… người Kinh xâm nhập chớp nhoáng, quyền lợi bị đụng chạm. Một số lớn lính Thượng, dù không phải là Thượng Cộng, cũng đã nổi lửa đốt nhà, đốt doanh trại bỏ đi.
Pháo của Bắc quân nã vào. Những đơn vị chiến xa, Pháo binh nặng… tập trung trong thị xã bây giờ kẹt cứng. Không nhúc nhích, không sử dụng được. Các trưởng xa, tài xế, pháo thủ cũng chịu chung số phận như những người khác. Tất cả trở thành mục tiêu cố định của những trận mưa pháo.
Thật kinh hoàng, khủng khiếp. Biển người và biển máu. Đó cũng là giờ phút khởi đầu của đoàn quân, đoàn xe, đoàn người đi trên khúc quanh Tử Thần, của Tỉnh Lộ Máu số 7.” [1]
Lúc đó, Giáo sư Trần Quí Phiệt đang là sinh viên Cao học tại Đại học Austin, Texas, và các bạn sinh viên Việt Nam cùng trường, với tâm hồn trĩu nặng lo âu, theo dõi tin tức bên nhà hàng ngày trên truyền hình. Ông đã ghi lại trong hồi ký Thiên Đường Tìm Lại, “Đó không phải là cuộc triệt thoái mà là một cuộc tháo chạy bi thảm của quân lính và thường dân trên đoàn công-voa bị Việt Cộng phục kích nhắm bắn trực xạ. Quốc lộ 7 trông như một nghĩa địa vĩ đại đầy rẫy những xác xe quân sự. Thương vong chắc chắn phải rất cao vì đoàn công-voa bị nghẽn, trở thành bia của hỏa lực cộng sản. Đám con gái xem tin tức với chúng tôi bưng mặt khóc nức nở.” [2]
Đó là khởi đầu cho cuộc biển dâu mà “khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn” [3]. Tiếp nối là những ngày tháng quá đỗi nặng nề, khó khăn và ngột ngạt. Bởi người dân miền Nam đã quen sống trong một chế độ dân chủ tự do với nền giáo dục nhân bản, dân tộc và khai phóng. Chính nhờ vậy, chỉ trong hai mươi năm (1954-1975), các văn nghệ sĩ miền Nam đã có được những sáng tác văn chương âm nhạc mỹ thuật phong phú, bất hủ và tuyệt vời nhất. Chế độ mới bóp nghẹt dân chủ tự do, với những chủ trương chính sách khắc nghiệt như cầm tù những sĩ quan, công chức, văn nghệ sĩ thời Việt Nam Cộng Hòa với mỹ từ “học tập cải tạo”, thiêu hủy toàn bộ những tác phẩm văn học, sách báo mà phe thắng cuộc gán cho là “nọc độc chủ nghĩa thực dân mới” (sic), thúc đẩy dân chúng – nhất là những gia đình có người thân đang trong tù cải tạo – đi kinh tế mới, còn con em của họ thì bị đánh rớt không thương tiếc khi thi vào đại học... Từ đó, dẫn đến cuộc “bỏ phiếu bằng chân” vô tiền khoáng hậu kéo dài gần 15 năm và chỉ chấm dứt vào cuối thập niên 1980 khi các trại tị nạn Á châu tuyên bố đóng cửa, dù phải trả bằng một cái giá rất đắt, bằng vàng bạc và cả mạng sống của mình, nếu không đến được bến bờ... Có lẽ không ai quên những câu nói thông dụng vào thời đó, “nếu cái cột đèn mà biết đi...”, “hoặc là con nuôi cá, hoặc là má nuôi con”, v.v...
Đã qua thời tuổi trẻ với chiến tranh, tôi từng chứng kiến bạn mình rời ghế nhà trường vào lính rất sớm. Rồi một hôm nào đó, chợt hay tin bạn gục ngã nơi chiến trường xa, xác chẳng toàn thây. Tôi xót thương phận người thiếu nữ chưa một lần hạnh phúc, đã vội chít khăn sô tang trắng cuộc tình đầu. Đời sống mong manh, như không có thực. Hết chiến tranh rồi đến thời tị nạn. Hồi ở Bataan, người nữ cán sự xã hội Phi Luật Tân thường đưa tôi đi cùng bà đến thăm các cô gái trẻ gặp nạn hải tặc mới đến đảo. Nhưng chưa lần nào bà cần đến tôi giúp thông dịch, vì các bạn đều nói tiếng Anh trôi chảy. Tự trong thâm tâm, tôi rất đau lòng, tựa cụ Nguyễn ngày xưa tiếc thay một đóa trà mi... Mãi về sau, đọc trên mạng, hoặc trong sách, nỗi đau càng lớn hơn khi biết có những bạn đã bị ném xuống biển hoặc bắt đi luôn mất tích, gia đình không tìm lại được... Thân phận người nữ thời nào sao cũng gắn liền với nghiệt ngã. Có nên kể thêm những nạn nhân làm dâu xứ lạ lúc sau này. Dĩ nhiên có những người may mắn, hạnh phúc được phận đẹp duyên ưa. Nhưng bên cạnh đó, có em chẳng may gặp phải chồng vũ phu, bạo hành đến chết [4] hoặc có lúc không thể nào chịu đựng nổi, cô dâu đã nhảy lầu tự tử [5]. Ôi, những người con gái Việt Nam da vàng với định mệnh sao quá truân chuyên...
Mấy năm gần đây, thế giới rất bất ổn. Ác quỷ chiến tranh vẫn còn hiện diện đó đây, giết chết biết bao nhân mạng, cả những bé thơ, trong tay không một tấc sắt. Cộng thêm những tàn phá trường học, bệnh viện, xóm làng... của những người dân hiền hòa vô tội. Đời sống bình yên bị phá vỡ. Hết rồi ngày tháng vô tư, an ổn. Nếu các vị nguyên thủ quốc gia thấu đáo được lẽ vô thường, tấm thân ngũ uẩn giả tạm này một ngày kia sẽ trở về với cát bụi:
Ngũ uẩn phù vân không khứ lai,
Tam độc thủy bào hư xuất một.
(Huyền Giác đại sư – Chứng đạo ca)
[Dịch nghĩa: Thân ngũ uẩn này chẳng khác nào như mây nổi bay qua lại trong bầu trời, khi tụ khi tán, lúc có lúc không, có nghĩa lý gì đâu! Tam độc là tham sân si, chẳng khác nào như bọt nước chợt nổi chợt tan, chỉ còn trong khoảnh khắc, đâu có lâu bền.] [6]
mà dẹp bỏ hết mọi tham vọng, hư vinh, chỉ nghĩ đến hòa bình, mưu cầu hạnh phúc cho muôn dân thì cuộc đời này sẽ là niết bàn, tốt đẹp biết bao. Đi vào chiến tranh, nghĩa là đồng hành với tàn sát, hủy hoại mọi thứ. Đau thương quá lắm và cũng đắng cay quá lắm! Thế nên, những vần thơ từ cuộc chiến Việt Nam cách đây hơn 50 năm vẫn còn thổn thức trong tâm của những người hôm nay:
Em tặng anh hoa hồng
Chôn trong lòng huyệt mới
Em tặng anh áo cưới
Phủ trên nấm mồ xanh
...
Anh tặng em mùi máu
Trên áo trận sa trường
Máu anh và máu địch
Xin em cùng xót thương...
(Trần Mộng Tú – Quà tặng trong chiến tranh)
Này bạn, xin hãy góp phần cầu nguyện cùng đoàn hành giả Phật giáo và chú chó Aloka đang bộ hành từ Texas đến Washington để thúc đẩy hòa bình [7]. Cho đất bằng thôi dậy sóng. Cho con người được sống an yên. Cho thế giới với nhiều người hiền. Cho hạnh phúc triền miên vĩnh viễn. Mong lắm thay!
Trần Thị Nguyệt Mai
25/1/2026
Tham khảo:
[1] Đinh Từ Thức – 50 năm sau Sổ tay viết lại (kỳ 2): Con Đường Tử Thần https://damau.org/102756/50-nam-sau-so-tay-viet-lai-ky-2-con-duong-tu-than
[2] Trần Quí Phiệt – Thiên Đường Tìm Lại, Hồi ký,chương Đại nạn lớn nhất, sẽ xuất bản.
[3] https://vnexpress.net/nguyen-thu-tuong-vo-van-kiet-chung-ta-dung-ru-ngu-minh-2031627.html
[4] https://vnexpress.net/bi-kich-co-dau-viet-bi-chong-sat-hai-o-han-quoc-2169118.html
[5] https://tienphong.vn/he-lo-thu-tuyet-menh-cua-co-dau-viet-nhay-lau-tu-tu-tai-han-quoc-post602781.tpo
[6] Thích Thanh Từ – Bài Pháp Ðầu Tiên Của Ðức Phật
https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbkin007.htm
[7] https://www.nguoi-viet.com/hoa-ky/doan-hanh-gia-phat-giao-di-bo-tu-texas-den-washington-keu-goi-hoa-binh/
|