Vũ Hoàng Thư
Tháng chạp lạnh, gió mang mây đi khuất. Trời đâm cao hẳn. Mùa trăng
chót cuối năm sáng vằng vặc soi đường đầy bóng lá. Hàng cây mộc
liên phủ thành chòm bóng tối trên lối đi. Đặc quánh đêm huyền trong
từng chùm lá, chân bước đều theo khoanh sáng nối tiếp lõm tối mông
lung. Bất giác nhớ một hàng tre của trăng đan mắt lưới theo lá nhỏ
vẽ vời trên áo ai. Hít mạnh một hơi, khí lạnh lùa vào buồng phổi,
da săn lại chút gai ốc, đầu thấy lâng. Và như thế những cơn nhớ
trở về. Không hề bắt kịp, chỉ có chút xao xuyến còn đọng lại thấy
rất gần như mới hôm qua. Mới hôm qua, hôm kia hay là hôm trước?
Trước đã bao lâu nhỉ ? Theo định nghĩa hôm qua là cái thời trước
của bữa nay, vậy mà khi vừa nói cái bây giờ chưa xong thì lập thời
nó đã trở thành quá khứ. Ôi nắm bắt, nó trở thành một từ ngữ đa
đoan. Ta chạy đuổi và giữ chặt. Ta hổn hển ôm ghì. Ta mừng reo bắt
gặp. Mở lòng bàn tay còn gì chăng ngoài một chút thinh không. Chút
im lặng của ngậm ngùi. Con đường thành vô hạn mà điểm hẹn luôn luôn
là ở phía đàng kia. Cứ như thế ta chơi mãi trò cút bắt với thời
gian và lỡ hẹn không cùng. Không hề có thời gian đứng yên, lại không
thể nắm được thời gian đang đi, từ đó người mơ về một buổi đầu tiên
chưa bao giờ mất, cái thuở ban sơ, uyên nguyên ẩn mật của tiếng
vượn trầm.
Mùa xuân, mùa đầu tiên của năm, trở thành cõi thượng nguồn mà con
người cứ mãi nhắm đến. Đó là Xuân Nguyên Thể, khởi đầu của mọi sáng
tạo khi vạn vật hình thành, khi con người vừa bước chân vào vườn
địa đàng. Đó là Nguyên Xuân của Bùi Giáng ở Mưa Nguồn,
Thưa rằng: ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân
(Chào Nguyên Xuân – Bùi Giáng)
Ly biệt mở ra trùng ngộ, nói cách khác, sa đọa đã hàm ẩn ơn cứu
chuộc. Giải thoát bước ra ngay ở giữa những khổ đau của cuộc đời,
không nơi nào khác. Bôn ba kiếm tìm ở một “cõi trên” xa xôi nào
đó chỉ là hoài vọng. Nguyên Xuân, trạng thái tâm linh mà mọi cặp
đối đãi nhị nguyên bị phủ nhận quyết liệt đến cùng, vượt ra ngoài
mọi thể tính, kể cả hư vô hay hư không. Mọi biên giới cách chia
đều biến mất, vượt thoát ngay cả trong ý niệm không gian và thời
gian, cho nên mọi sự đều hội ngộ, mọi sự đang trên đường trở về.
Ta tìm thấy ta, ta không còn vong thân nữa. Chỉ khi ta trở về với
ta thì hốt nhiên,
Nhất điểm xuân quang, xứ xứ hoa
Chỉ một chấm ánh sáng mùa xuân lóe bừng, chỉ cần một ánh nhỏ thôi
là đủ nở rộ cho cả một thế giới hoa. Tuệ Trung bảo anh đừng có đứng
dựa cửa nhà người ta nữa, có đẹp mấy thì cũng chẳng phải là của
ta, hãy về nhà của mình đi thôi,
Báo quân hưu ỷ tha môn hộ,
Nhất điểm xuân quang, xứ xứ hoa
(Thị học – Tuệ Trung)
Cửa người anh hãy thôi nương dựa,
Một ánh xuân về hoa đó đây
(Đỗ Văn Hỷ dịch)
Ta bây giờ là Nguyên Xuân, chẳng là một, chẳng là khác, mùa xuân
nguyên thể bất tận, hoa nào không vì ta mà hoa không nở, chim nào
không vì ta mà chim không hót. Nào có bên trong, nào có bên ngoài,
tâm vắng lặng, há lấy gì có cảnh ? Chỉ có một màu Nguyên Xuân.
Nguyên Xuân không nhất thiết phải là mùa xuân đầu tiên vì nói cho
đến ngọn ngành, thế nào là đầu tiên, thế nào là cuối cùng ? Cũng
vì thế, không cứ mùa xuân, tạm gọi là mùa xuân đầu tiên nào cũng
đẹp. Đầu tiên đùa cợt ban sơ. Mệnh Tài đưa dẫn duyên chờ khởi tuôn.
Xuân đầu tiên mở ngọn nguồn. Mộng ban đầu lại đoạn trường kết dây.
Mùa xuân bắt đầu cho cuộc gặp gỡ định mệnh giữa Kim Trọng và Thúy
Kiều rồi từ đó biết bao mùa xuân suốt dọc mười lăm năm “một xe trong
cõi hồng trần như bay” giẫm nát đời Thúy. Có thể vì vậy, ngay ở
bài Chào Nguyên Xuân, Bùi Giáng tự hỏi,
Hỏi rằng: từ bước chân ra
Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài
Từ bước chân ra, người lên đường, người chạy theo cuộc
bể dâu mà ra đi. Bắt đầu từ khi cất bước là người nhập vào cuộc
chơi của tuồng biệt ly/ hội ngộ, cho nên người thấy mất mát, thấy
khổ đau, thấy những cơn gió chướng, những trận cuồng phong, thấy
gió dàn xa dặm dài. Lưu vong không hẳn chỉ là mất mát quê hương
trên khách địa mà còn chính là lúc ta đánh mất ngay chính ta trong
nếp sống, trong suy tưởng. Người ăn ngủ nhớ nghĩ trong tình quê
hương, thì người ở đâu cũng không mất quê hương. Người sống vong
bản, vị kỷ, họ lưu vong ngay trên chính quê mình. Xa là dẫu có gần
kề. Mà tuồng như lạ những mê mẩn đầu. Thuở ban đầu, lũy tre xanh
in bóng trên mái ngói âm dương dưới ánh trăng làm nên Nhà, câu hò
tiếng hát tạo nên Nước. Nước với nhà là những gì rất gần gũi, rất
bình thường đeo đuổi theo ta đến cuối cuộc đời. Xin trả những danh
nghĩa hào nhoáng cho kẻ mưu đồ, những thứ đó chỉ làm cho người xa
người, người quên nước. Mùa xuân xa nhà, gặp bạn cố hương, Vương
Duy nhớ hỏi gì về quê cũ ? Ông chỉ có một câu hỏi về nhành mai đã
nở hay chưa trước song cửa ở quê nhà. Đơn sơ nhưng thân thuộc. Thanh
đạm mà đầy ân tình.
Quân tự cố hương lai
Ưng tri cố hương sự
Lai nhật ỷ song tiền
Hàn mai trước hoa vị
(Tạp thi – Vương Duy)
Người từ quê cũ về
Ắt biết được tin quê
Ngày đi qua cửa thêu
Hàn Mai nở ít nhiều
(Vũ Thế Ngọc dịch)
Xuân lưu xứ không tránh được những mơ mộng nhớ nhung. Ta nhớ gì
ở mùa Xuân ? Cúc và mai vàng. Vạn thọ rực rỡ bên những bộ lư hương
mới chùi cuối năm bóng loáng trên tủ thờ. Và mức trắng phau trong
thau bông của mẹ. Những cái thau có hình bông hoa sặc sỡ và tráng
men mà mẹ tôi cất dành không dám dùng trong năm, bà chỉ để dành
rim mứt tết. Tết theo lên từng tuổi trong mứt ngọt của lát khoai
trắng vuông vắn, của thanh bí đao xốp mọng màu đường, của thớ mỏng
gừng cay vàng mơ thấm giọng. Lại không thể quên trái me dốp lịm
ngọt lẫn chua. Tết là đường, tết là ngọt, tết là mía lùi trong yêu
thương của mẹ cha, của anh chị, của làng nước quanh ta.
Đêm yên tĩnh, chỉ còn tôi và bóng trăng trên đường vắng. Tôi ngước
nhìn lên bầu trời đầy sao, chòm Hiệp Sĩ vẫn đeo đẳng theo tôi từ
năm ngoái khi tôi về trọ ở đây. Mấy tháng hè nó mờ nhạt và lẫn lộn
trong đám vân hà nhưng bây giờ thì sáng rõ không thể lầm. Tôi vẫn
thường chỉ hướng và giải thích cho Ph. về những chòm sao khi hai
chúng tôi đi bộ về đêm. Ph. đã về dưới phố từ mấy tháng nay, tôi
tản bộ hàng đêm một mình. Đâu đó mùi dạ lý thoang thoảng, báo hiệu
mùa xuân đã rất gần hay có thể xuân đã về ở đây. Dạ lý hương từ
xa mùi không mấy nồng, kích thích khứu giác, đưa tôi về chùa nơi
góc núi với mùi nhè nhẹ của trầm. Chùa ẩn mờ sau màn sương của trí
nhớ. Nhang khói vờn trong tiếng đại hồng chung trầm hùng. Và hương
đêm diệu vợi ngọc lan. Và tết. Chợt nhớ đến hai câu thơ trong bài
Chùa Gia Lâm của Trần Quang Triều về vị sư già vô ngôn
tiễn khách,
Khách khứ tăng vô ngữ
Tùng hoa mãn địa hương
(Trần Quang Triều)
Khách về, tăng chẳng nói
Hoa thông rụng ngát vườn
(Nguyễn Lang dịch)
Khách và tăng trở thành một trong cái bát ngát của hoa thông rụng
ngát vườn. Ta với vạn vật nhập hòa trong cái mênh mông không phân
biệt ngoài kia, người có thấy? Mọi lời nói đều trở nên thừa và vô
nghĩa.
Xuân đang về quanh đây, có lẽ tôi cũng không nên nhiều lời, bởi
chưng
Thưa rằng: nói nữa là sai
Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào
(Chào Nguyên Xuân – Bùi Giáng)
Vũ Hoàng Thư
Santa Barbara, Đầu Xuân 2004
|